+-

Recent Topics

Chương tŕnh học bổng toàn phần năm học 2021-2022 cho học sinh nghèo, hiếu học ở Việt Nam. by Autumn Breeze
Today at 07:47:02 am

Hôm nay bạn ăn ǵ ? by VươngVấn
Today at 02:50:04 am

Thư Giản - Vương Vấn đi dạo miệt quê by VươngVấn
Today at 02:04:45 am

Mừng thành viên mới by Khoa1221
October 16, 2021, 05:35:22 pm

Phi Nhung - Huyền Thoại Âm Nhạc by Khoa1221
October 16, 2021, 04:07:38 pm

VHV: 🍁 Trái Tim Mùa Thu 🍁 by VươngVấn
October 16, 2021, 03:07:13 am

Đường con theo Chúa by VươngVấn
October 16, 2021, 02:54:46 am

Happy Friday - TGIF by VươngVấn
October 16, 2021, 02:49:36 am

CUỘC T̀NH ĐĂ XA !!! by dang dat
October 15, 2021, 04:38:55 pm

Con Đường Hẹp by Linh Đạo
October 14, 2021, 06:53:28 pm

Công Án Thiền by Huệ Từ
October 14, 2021, 05:00:09 pm

Sở hữu tâm 01.(Sư cô Tâm Tâm) by rausam
October 14, 2021, 11:02:03 am

321 by VươngVấn
October 13, 2021, 11:14:57 pm

BÀI THƠ HẠNH PHÚC !!! by dang dat
October 13, 2021, 06:14:32 pm

Hát Cho Nhau Nghe by lamdzuyen
October 13, 2021, 03:41:20 pm

Vườn thơ sưu tầm by Khoa1221
October 13, 2021, 10:13:53 am

Thiên Nhiên by VươngVấn
October 11, 2021, 11:11:56 pm

VỌNG CỐ HƯƠNG !!! by dang dat
October 11, 2021, 06:01:29 pm

Thơ & Nhạc : Vườn Hoa Việt by VươngVấn
October 10, 2021, 08:40:33 pm

Chia Buồn by VươngVấn
October 10, 2021, 08:35:18 pm

SẮC HOA MÀU NHỚ !!! by VươngVấn
October 08, 2021, 06:37:57 pm

Bài viết về tác phẫm nhạc by Khoa1221
October 08, 2021, 01:44:56 pm

Người tham dâm dục nhất định chết sớm. by rausam
October 08, 2021, 10:40:34 am

Dành thời gian cho đời sống tâm linh. by rausam
October 08, 2021, 10:32:44 am

Vài tấm để làm kỷ gừng và kỷ nghệ .. by VươngVấn
October 07, 2021, 09:13:34 am

MÙA THU VÀ LỮ KHÁCH !!! by dang dat
October 06, 2021, 03:49:15 pm

Chế độ ăn uống và dinh dưỡng: Thực phẩm lên men (fermented) để tăng cường sức khỏe by Khoa1221
October 06, 2021, 09:27:17 am

Cập Nhật T́nh H́nh COVID by Khoa1221
October 05, 2021, 09:25:28 am

Vu Vơ và Vớ Vẫn by Khoa1221
October 05, 2021, 09:22:38 am

THƠ TRANH HDD by dang dat
October 03, 2021, 09:23:29 pm

Author Topic: Truyện - Con mắt thứ ba (Tây Tạng Huyền Bí)  (Read 395 times)

0 Members and 0 Guests are viewing this topic.

Offline Huệ Từ

  • Jr. Member
  • **
  • Posts: 53

CHƯƠNG XV: MIỀN BẮC VÀ NHỮNG NGƯỜI TUYẾT BÍ ẨN

Trong thời gian này, chúng tôi đi lên Cao Nguyên Chang Tang. Trong cuốn sách này sẽ chỉ đề cập ngắn gọn về vùng này, để viết về chuyến đi thám hiểm nơi này sẽ cần cần đến vài cuốn sách. Đức Đạt Lai Lạt Ma đă ban ân huệ cho từng người một trong đoàn chúng tôi gồm mười lăm người và tất cả chúng tôi lên đường trong sự phấn chấn hăm hở. Trên lưng con la, v́ những con la sẽ đi được những nơi mà ngựa không thể, chúng tôi đi chậm răi theo con đường Tengri Tso, tiếp tục đến những hồ lớn tại Zilling Nor, và đi tiếp về hướng Bắc. Chậm răi leo qua Tangla Range, và tiếp tục đi vào vùng đất chưa được khám phá. Rất khó để nói chúng tôi đi mất bao nhiêu lâu, bởi v́ thời gian không có ư nghĩa với chúng tôi; không có lư do ǵ để phải vội vàng, chúng tôi đi ở tốc độ phù hợp với ḿnh, tiếp kiệm sức lực và năng lượng cho những công việc khó nhọc hơn sau này.

Khi chúng tôi đi xa hơn, ngày càng sâu hơn vào vùng cao nguyên, nền đất cũng cao dần lên, làm tôi nhớ đến mặt trăng khi nh́n qua kính thiên văn lớn trong cung điện Potala. Những dăy núi sừng sững bao la và những vực sâu thăm thẳm. Nơi đây phong cảnh giống hệt nhau. Những núi đá triền miên không dứt, và những khe nứt sâu thẳm không đáy. Chúng tôi di chuyển một cách khó khăn qua “phong cảnh mặt trăng” này, nhận thấy t́nh trạng trở nên khó khăn hơn. Cuối cùng, những con la không thể đi xa hơn được nữa. Trong không khí loăng, chúng sớm bị kiệt sức và không thể vượt qua những hẻm núi đá nơi mà chúng tôi cảm thấy ngây ngất chóng mặt ở cuối sợi dây thừng bện bằng lông con yak. Tại nơi kín gió mưa nhất mà chúng tôi có thể t́m được, chúng tôi để lại những con la và năm thành viên yếu nhất trong đoàn ở lại với chúng. Họ được che chắn khỏi những luồng gió tồi tệ nhất của vùng núi cằn cỗi đó, những cơn gió quét qua những mũi núi đá chĩa ra tua tủa giống như những chiếc răng nanh lởm chởm của chó sói. Ở nơi trú ẩn, có một cái hang mà đá mềm đă bị xói ṃn theo thời gian. Một con đường dốc dẫn xuống thung lũng, nơi có một thảm thực vật thưa thớt, trên đó những con la có thể ăn. Một ḍng suối ngân vang chảy siết dọc theo vùng đất và đổ xuống vách đá sâu hàng cây số, sâu đến nỗi không nghe thấy tiếng nước chạm vào đáy vực.

Chúng tôi nghỉ lại ở đây hai ngày trước khi khó nhọc leo lên cao hơn nữa. Lưng đau nhức v́ đồ đạc mang theo, và phổi chúng tôi cảm thấy như thể sẽ vỡ v́ thiếu không khí. Chúng tôi tiếp tục đi, vượt qua các vực sâu và hẻm núi, mà để vượt qua rất nhiều trong số đó, chúng tôi phải quăng những sợi dây thừng buộc móc sắt. Quăng và hy vọng rằng sẽ có chổ móc an toàn ở đầu bên kia. Chúng tôi lần lượt đánh đu và leo theo dây sang bên kia khi đầu móc đă bám chắc chắn. Sau khi toàn bộ các thành viên của đoàn đă sang được bên kia, dây được kéo để thu lại. Đôi khi chúng tôi không t́m được chổ để móc sắt bám vào, lúc đó một người trong đoàn sẽ phải buộc dây quanh bụng, và từ nơi cao nhất mà chúng tôi có thể leo lên, người đó sẽ phải cố gắng đánh đu sợi dây giống như một con lắc, tăng dần đà văng trong mỗi lần đu.

Khi sang đến bờ bên kia, người đó sẽ phải trèo lên chỗ tốt nhất mà anh ta có thể t́m điểm buộc sợi dây giăng ngang sang. Tất cả chúng tôi thay phiên nhau để làm việc này, v́ đó là một công việc khó khăn và nguy hiểm. Một nhà sư đă bị chết khi làm việc đó. Ông đă leo lên cao một vách đá ở bờ bên này của chúng tôi và đánh đu. Dường như ông đă đánh giá sai, v́ ông đă va vào vách đá đối diện với sức mạnh khủng khiếp, khuôn mặt và óc của ông bị đập mạnh vào những tảng đá lởm chởm. Chúng tôi đă kéo cơ thể ông về, và cầu nguyện cho ông. Chẳng có cách nào để chôn cất thi hài trong nền đá rắn chắc, v́ thế chúng tôi đă để ông lại trong gió, mưa và những con chim. Vị sư tiếp theo phải làm việc này trông không sẵn sàng một chút nào, v́ vậy tôi đă thay thế. Rơ ràng, với tôi, là theo những lời tiên tri về tôi, tôi sẽ khá an toàn và niềm tin của tôi đă được tưởng thưởng.

Cách xoay của riêng tôi rất thận trọng - mặc dù đă có những lời tiên tri! - và tôi đă bám được những ngón tay vào cạnh của tảng đá gần nhất. Chỉ khi đó tôi mới t́m cách trèo và đu ḿnh lên, với hơi thở hổn hển gấp gáp và tim đập th́nh thịch như thể sắp nổ tung. Tôi nằm một lát, hoàn toàn kiệt sức, sau đó tôi trườn một cách khó nhọc lên trên sườn núi. Những người khác, những người bạn đồng hành tốt nhất có thể có, ném những sợi dây của họ để tôi có thể bắt được. Bây giờ túm chặt hai đầu dây, tôi cột chúng thật an toàn và gọi cho họ để thử kéo mạnh và kiểm tra chúng. Từng người một, họ vượt qua bằng cách lộn ngược người, tay và chân móc quanh sợi dây, áo choàng rung rinh trong gió lặng, những làn gió đă cản trở chúng tôi và chả giúp chúng tôi thở được chút nào cả.

Trên đỉnh vách đá, chúng tôi nghỉ một lát và pha trà, mặc dù ở độ cao này, nhiệt độ sôi rất thấp, và trà thực sự không đủ để sưởi ấm chúng tôi. Hơi bớt mệt một chút, chúng tôi lại nhặt hành lư và loạng choạng tiến lên, vào trung tâm của khu vực khủng khiếp này. Ngay sau đó chúng tôi đến bên một dải băng, một ḍng sông băng, có lẽ là vậy, và hành tŕnh của chúng tôi càng trở nên khó khăn hơn. Chúng tôi không có giày chống trượt, không có ŕu phá băng, hay những thiết bị leo núi; “thiết bị” của chúng tôi chỉ bao gồm những đôi giầy da có đế được buộc bằng sợi lông đủ để bám chặt, và những chiếc áo choàng.

Trong quá khứ, thần thoại Tây Tạng có Địa ngục Băng giá. Sự ấm áp là ân huệ cho chúng tôi, v́ vậy trái ngược là rét buốt, do đó sẽ là địa ngục rét buốt. Chuyến đi lên Cao nguyên cho tôi biết rét buốt là ǵ!

Sau ba ngày vất vả đi trên dải băng, run rẩy trong gió rét buốt và mong muốn rằng chúng tôi chưa bao giờ nh́n thấy nơi này, ḍng sông băng dẫn chúng tôi đi xuống giữa những tảng đá cao chót vót. Chúng tôi đi xuống măi, ḍ dẫm và trượt chân, xuống một nơi sâu thẳm. Tiếp tục đi xa vài cây số, chúng tôi đi ṿng quanh bờ núi và nh́n thấy phía trước làn sương mù trắng dày đặc. Từ xa chúng tôi không biết đó là tuyết hay mây, nó rất trắng và liên tục. Khi đến gần, chúng tôi nh́n thấy đó thực sự là sương mù, phía xa những dải xoắn tan vỡ dần và trôi đi.

Đại Đức Mingyar, là người duy nhất trong chúng tôi đă ở đây khi trước, mỉn cười vui thích: “Trông con ủ rũ quá! Nhưng con sẽ có những niềm vui ngay bây giờ đây.”

Chúng tôi chẳng thấy có ǵ thú vị ở phía trước cả. Sương mù. Rét buốt. Băng đông cứng dưới chân và bầu trời đông lạnh trên đầu chúng tôi. Đá lởm chởm như nanh trong miệng sói trong khi những tảng đá luôn đe dọa làm chúng tôi bị thương. Và Sư phụ nói rằng chúng tôi sắp có “niềm vui”!

Chúng tôi tiếp tục đi sâu vào sương mù rét buốt và ẩm ướt, lê bước khó nhọc. Chúng tôi không biết đây là đâu. Ôm áo khoác trong tay tất cả chúng tôi có ảo tưởng của sự ấm ấp. Thở hổn hển và rùng ḿnh v́ lạnh. Đi xa hơn và vẫn xa hơn nữa. Rồi dừng lại, sững sờ kinh ngạc và sợ hăi. Sương mù đă trở nên ấm áp, mặt đất cũng đang nóng lên. Những người đi phía sau vẫn c̣n một khoảng xa, và không thể nh́n thấy, đâm sầm vào chúng tôi. Trấn tĩnh lại phần nào khỏi sự kinh ngạc nhờ tiếng cười của Đại Đức Mingyar, chúng tôi lại chen lấn về phía trước, một cách mù quáng, vươn tay với lấy người phía trước, người dẫn đường cảm thấy người bạn đồng hành đẩy anh ta về phía trước. Dưới chân chúng tôi, đá, sỏi lăn dưới giầy, đe dọa chuyến đi.

Đá ư? Sỏi ư? Rồi ḍng sông băng, cả băng giá nữa đâu hết rồi? Làn sương mù bất ngờ mỏng dần, và chúng tôi đă xuyên qua nó. Từng người một, chúng tôi ḍ dẫm đi vào, phải, khi nh́n quanh tôi đă nghĩ rằng ḿnh đă chết rét và đang được đưa lên Thiên đàng. Tôi dụi mắt bằng bàn tay nóng ấm; tôi tự véo ḿnh và cong ngón tay gơ vào đá để xem liệu tôi đang là xương là thịt hay là linh hồn. Rồi sau đó, tôi nh́n quanh: Tám người đồng hành đang ở bên tôi. Có thể nào tất cả chúng tôi đột nhiên bị đưa đi hết? Và nếu như vậy, thành viên thứ mười đă chết v́ va vào đá th́ sao? Và chúng tôi có xứng đáng với thiên đường mà tôi đang nh́n thấy phía trước ḿnh không?

Nhịp tim ba mươi trong cái lạnh đă ở bên kia màn sương mù. Giờ đây chúng tôi đang có nguy cơ khổ sở v́ nóng! Không khí lờ mờ, mặt đất bốc hơi. Một ḍng suối ngay bên chân chúng tôi nổi bọt từ ḷng đất, được cuốn bởi hơi nước. Xung quanh chúng tôi là cỏ xanh ngát, xanh hơn bất cứ loại cây nào mà tôi từng nh́n thấy trước đây thảm có trải rộng phía trước chúng tôi cao hơn đầu gối. Chúng tôi sửng sốt và hoảng sợ . Cứ như là ma thuật, một điều ǵ đó khác xa với kinh nghiệm của chúng tôi. Sau đó Đại Đức Mingyar nói: “Tôi cũng giống như các vị khi lần đầu tiên tới đây, đă ngắm nh́n không dứt! Các vị đang nh́n như thể các bạn nghĩ rằng Thần Băng giá đang đùa với ḿnh chăng!”

Tôi nh́n quanh, sợ hăi đến mức gần như không nhúc nhích được, và sau đó Sư phụ lại phải nhắc lần nữa: “Mọi người hăy nhảy qua suối, hăy nhảy qua, v́ nước đang sôi. Chỉ một vài dặm nữa chúng ta sẽ tới một nơi rất đẹp để nghỉ ngơi.”

Người nói đúng, luôn như vậy. Đi khoảng năm cây số, chúng tôi nằm duỗi dài trên mặt đất phủ đầy rêu, bỏ hết áo khoác v́ cảm thấy như đang bị đun sôi. Ở đây có những loại cây mà tôi chưa từng nh́n thấy trước đây, và có lẽ cũng không bao giờ c̣n nh́n thấy nữa. Những bông hoa màu sắc rực rỡ rải khắp nơi. Cây leo bám quanh các thân cây và các cành. Chếch phía bên phải nơi chúng tôi nghỉ ngơi, có thể nh́n thấy một hồ nước nhỏ và những gợn sóng h́nh tṛn trên mặt nước chỉ ra sự hiện diện của sự sống trong đó. Chúng tôi đểu cảm thấy vô cùng thích thú, và đă hồi phục v́ sự ấm áp và được đến một hành tinh khác của sự sống. Hoặc chúng tôi đă vượt qua cái rét buốt? Chúng tôi cũng không biết nữa!

Những tán lá sum suê, giờ đây khi tôi đă đi nhiều nơi, tôi có thể nói rằng đó là vùng khí hậu nhiệt đới. có những loài chim mà ngay cả bây giờ vẫn c̣n lạ đối với tôi. Đây là vùng đất núi lửa. Suối nước nóng sủi bọt từ trong ḷng đất, và có mùi lưu huỳnh. Sư phụ nói với chúng tôi rằng, theo ông được biết, có hai nơi giống như thế này trên vùng cao nguyên. Người nói rằng nhiệt độ dưới ḷng đất, và những ḍng suối nóng, làm tan chảy băng, và những bức tường đá cao bao bọc thung lũng làm cho không khí ấm áp. Màn sương mù trắng dày đặc mà chúng tôi đă đi qua là nơi giao cắt của những ḍng suối nóng và lạnh. Người cũng nói với chúng tôi rằng người đă nh́n thấy những bộ xương động vật khổng lồ, bộ xương mà, khi c̣n sống, phải là của một con vật cao từ sáu đến mười mét. Sau này chính tôi cũng đă nh́n thấy bộ xương như vậy.

Chính ở đây, lần đầu tiên tôi nh́n thấy Người Tuyết. Tôi đang cúi xuống hái thảo dược, một điều ǵ đó đă khiến tôi ngẩng đầu nh́n lên. Ngay gần đó, cách khoảng gần mười mét, là một sinh vật mà tôi đă từng nghe nói đến rất nhiều. những người làm cha mẹ ở Tây Tạng thường dọa những đứa trẻ nghịch ngợm bằng cách nói: “Hăy ngoan nào, nếu không Người Tuyết sẽ đến bắt con đi đấy!” Giờ đây, tôi nghĩ, một người tuyết sẽ bắt tôi đi và tôi chả thấy vui vẻ chút nào về điều đó. Chúng tôi nh́n nhau, cả hai bên đều đông cứng người v́ sợ hăi trong một lúc mà dường như hàng thế kỷ . Nó chỉ tay vào tôi, và phát ra tiếng kêu meo meo lạ lùng giống như tiếng mèo con. Cái đầu dường như không có thùy trán, nhưng vát ngược về sau gần như trực tiếp từ chỗ lông mày rất rậm. Cằm rút xuống rất nhiều và những chiếc răng lớn và dẩu ra. Tuy nhiên, dung tích hộp sọ có vẻ ngoài tương tự như của người hiện đại, chỉ khác ở chỗ không có trán. Bàn tay và bàn chân lớn và bẹt. Hai chân cong và cánh tay dài hơn nhiều so với b́nh thường. Tôi đă quan sát thấy sinh vật bước đi trên mặt ngoài bàn chân giống như con người. (Khỉ và các sinh vật cùng loài khác không đi trên bề mặt bên ngoài.)

Khi tôi nh́n và có lẽ đă nhảy lên v́ sợ hăi, hoặc v́ một lư do nào đó khác, người tuyết rít lên, quay lưng và lao vụt đi. Dường như là nhảy bằng “một chân” và để lại dấu vết giống như những bước chân của người khổng lồ. Phản ứng của tôi cũng là chạy, theo hướng ngược lại! Sau này, khi nghĩ về lúc đó, tôi đi đến kết luận là tôi đă phải phá vỡ kỷ lục chạy nước rút của Tây Tạng ở độ cao năm ngàn mét.

Về sau chúng tôi đă nh́n thấy một vài người tuyết ở xa. Chúng vội vă trốn khỏi tầm nh́n của chúng tôi, và chúng tôi chắc chắn đă không khiêu khích chúng. Đại Đức Mingyar đă nói với chúng tôi rằng những người tuyết này là sự thoái giống của loài người, khi đi theo những con đường khác nhau trong quá tŕnh tiến hóa và họ chỉ có thể sống ở những nơi hẻo lánh nhất. Chúng tôi đă nghe khá thường xuyên những câu chuyện về loài người tuyết đă rời bỏ vùng cao nguyên và xuất hiện nơi ranh giới gần khu vực sinh sống. Có những câu chuyện về những người phụ nữ đi một ḿnh bị những người tuyết nam bắt đi. Có thể đó là cách duy nhất mà họ có thể duy tŕ giống ṇi. Chắc chắn có một vài nữ tu khẳng định điều này với chúng tôi khi mà sau này họ nói với chúng tôi rằng một trong số bề trên của họ đă bị một con người tuyết nam bắt đi trong đêm. Tuy nhiên, tôi không có thẩm quyền để viết về những điều như vậy. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi đă nh́n thấy người tuyết lớn và người tuyết nhỏ . Tôi cũng nh́n thấy những bộ xương của chúng.

Một vài người đă tỏ ra nghi ngờ tính xác thực những công bố liên quan đến người tuyết của tôi. Người ta rơ ràng đă viết nhiều cuốn sách về những phỏng đoán của họ , nhưng không một ai trong số những tác giả đó đă nh́n thấy người tuyết, như họ thừa nhận. Một vài năm trước đây Marconi đă bị cười nhạo khi ông nói rằng ông sẽ gửi đi một thông điệp qua đài phát thanh sang bên kia Đại Tây Dương. Các bác sĩ phương Tây long trộng khẳn định rằng con người di chuyển không quá tám mươi cây số một giờ hoặc họ sẽ chết khi đi qua các luồng không khí. Có câu chuyện về con cá được cho là “hóa thạch sống”. Bây giờ các nhà khoa học nh́n thấy chúng, thu giữ chúng, mổ xẻ chúng. Và nếu như người phương Tây cũng theo cách của ḿnh, những người tuyết cổ xưa khốn khổ của chúng tôi sẽ bị bắt, bị mổ xẻ và được giữ ǵn về mặt tinh thần. Chúng tôi tin rằng những người tuyết được đưa đến vùng cao nguyên và nơi nào đó, ngoại trừ rất hiếm người đi lang thang, họ đă tuyệt chủng. Lần gặp gỡ đầu tiên gây nên nỗi sợ hăi. Lần thứ hai đầy ḷng trắc ẩn đối với sinh vật này của thời đại đă qua mà họ là những người bất hạnh đang bị diệt chủng v́ sự căng thẳng của lối sống hiện đại.
Like Like x 1 View List

Offline Huệ Từ

  • Jr. Member
  • **
  • Posts: 53


Tôi đă sẵn sàng, khi những kẻ xâm lược bị đuổi ra khỏi đất nước Tây Tạng, để hộ tống một đoàn thám hiểm gồm những người hoài nghi và chỉ cho họ thấy những người tuyết ở trên cao nguyên. Thật đáng giá khi nh́n thấy bộ mặt của những thương nhân lớn này khi họ đương đầu với những điều ngoài những kinh nghiệm thương mại của họ . Họ có thể sử dụng b́nh thở ô xy và thuê những người khuân vác, tôi sẽ sử dụng áo choàng cũ của nhà sư. Máy quay phim có thể sẽ chứng minh sự thật. Ở Tây Tạng thời gian đó chúng tôi chưa có thiết bị chụp ảnh.

Huyền thoại cổ xưa của chúng tôi kể lại rằng hàng thế kỷ trước đây Tây Tạng có những bờ biển trải dài. Điều chắc chắn là hóa thạch của các loài cá và sinh vật biển đă được t́m thấy khi mặt đất bị xáo trộn. Người Trung Quốc cũng có niềm tin tương tự . Bài vị của vua Đại Vũ, mà trước đây đặt trên đỉnh Kou-lou của dăy Heng tỉnh Hồ Bắc, có ghi nhận rằng vua Đại Vũ đă nghỉ lại trên sườn núi (vào năm 2278 trước Công nguyên) sau khi nổ lực thoát khỏi “đại hồng thủy” khi đó đă nhấn ch́m toàn bộ đất nước Trung Quốc ngoại trừ vùng đất cao nhất. Đá nguyên bản đă bị di chuyển đi, tôi nghĩ vậy, mà có những mô phỏng ở Wu-ch’ang Fu, một nơi gần Hán Khẩu. Một bản sao nữa ở trong đền thờ Ngọc Lâm (Yu-lin) gần Shao-hsing Fu tại Triết Giang (Chekiang). Theo niềm tin của chúng tôi, Tây Tạng là đă từng là một vùng đất thấp, giáp với biển, và v́ những lư do vượt quá sự hiểu biết của chúng tôi, trái đất đă có những chấn Động đáng sợ mà từ đó nhiều vùng đất đă bị ch́m dưới nước, và những vùng khác nổi lên cao thành núi.

Cao nguyên Chang Tang có rất nhiều hóa thạch, và bằng chứng cho thấy rằng tất cả vùng này đều từng là bờ biển. Những vỏ ốc khổng lồ, màu sắc sống động, bọt biển hóa đá kỳ lạ, và những rặng san hô rất phổ biến. Vàng cũng vậy, có thể nhặt được những cục vàng ở đây dễ dàng như nhặt những viên sỏi. Nước chảy ra từ sâu trong ḷng đất có nhiệt độ ở mọi mức, từ nhiệt độ sôi tới đóng băng. Đó là vùng đất của những tương phản kỳ diệu. Nơi đây có không khí nóng ẩm mà chúng tôi chưa bao giờ biết đến. Đi xa vài mét, ngay phía bên kia của màn sương mù là cái rét buốt đến mức có thể hủy hoại sự sống và làm cho cơ thể gịn tan như thủy tinh. Có những thảo mộc thuộc loại hiếm nhất mọc ở đây, và chỉ v́ chúng mà chúng tôi đă thực hiện chuyến đi này. Ở đây cũng có nhiều loại trái cây, có những loại mà chúng tôi chưa bao giờ nh́n thấy. Chúng tôi đă nếm chúng và rất thích, chúng tôi ăn đến no nê … một h́nh phạt nặng nề. Trong đêm và cả ngày hôm sau, chúng tôi bận rộn thu hái các loại thảo mộc. Dạ dày chúng tôi không quen với thức ăn này và sau đó chúng tôi đă bỏ lại những trái cây này.

Chúng tôi khuân tối đa các loại thảo mộc, và trở lại con đường cũ ngang qua làn sương mù. Cái lạnh thật khủng khiếp. Có lẽ tất cả chúng tôi đều cảm thấy thích quay trở lại và sống trong thung lũng tuyệt vời kia. Một vị lạt ma đă không thể đối mặt với cái rét buốt một lần nữa. Một vài giờ sau khi vượt qua màn sương mù ông đă suy sụp, và mặc dù chúng tôi đă cắm trại và hết sức nổ lực để giúp, ông vẫn không gượng lại được và lên thiên đường trong đêm. Chúng tôi đă làm cách tốt nhất để giúp ông, cả đêm đó chúng tôi đă cố gắng để làm ấm ông bằng cách nằm sát bên ông, nhưng cái rét buốt của vùng núi khô cằn đă quá khắc nghiệt. Ông ngủ, và không dậy nữa. Những đồ ông mang, chúng tôi chia nhau mang về, mặc dầu trước đó chúng tôi đă cân nhắc mang ở mức tôi đa của ḿnh. Trở về qua vùng núi lấp lánh băng giá chúng tôi lần từng bước đau đớn. Sức mạnh của chúng tôi dường như đă bị suy sụp bởi sự ấm áp thoải măi của thung lũng ẩn khuất, và bây giờ chúng tôi không c̣n đủ lương thực. Trong hai ngày cuối cùng của hành tŕnh trở về chổ những con la chúng tôi không ăn một chút ǵ cả, chúng tôi không c̣n ǵ hết, thậm chí cả trà để uống cũng không c̣n.

Khi chỉ c̣n vài cây số, một người trong đoàn đă bị ngă và không dậy được nữa. Rét, đói khát, và sự gian khổ đă cướp đi một người nữa của chúng tôi. Và rồi vẫn c̣n một người nữa đă ra đi. Chúng tôi đến nơi cắm trại để t́m bốn nhà sư đang đợi chúng tôi. Bốn nhà sư đă lao vào để giúp chúng tôi vượt qua những cây số cuối cùng của giai đoạn này. Chỉ bốn người, nhà sư thứ năm đă mạo hiểm ra ngoài cơn gió mạnh và bị cuốn đi khỏi gờ đá rơi xuống vực sâu phía dưới. Bằng cách nằm úp mặt xuống, và chân được giữ chặt nên tôi không bị trượt đi, tôi nh́n thấy ông nằm dưới sâu hàng trăm mét, máu nhuộm đỏ áo choàng.

Trong ba ngày tiếp theo, chúng tôi nghỉ ngơi cố gắng lấy lại sức. Không chỉ có mệt mỏi và kiết sức đă khiến chúng tôi không thể đi, mà c̣n v́ gió rít trong khe đá, làm lăn những tảng đá, lùa những đám bụi cắt da thịt vào trong hang của chúng tôi. Bề mặt những con suối nhỏ bị thổi bay thành những tia nước sắc mạnh. Suốt đêm gió lốc tru lên xung quanh như lũ quỷ đang muốn xé nát chúng tôi. Từ một nơi nào đó ngay gần, đất đá rung chuyển đang đổ xô tới ầm ĩ. Lại c̣n nữa, một tảng đá khổng lồ từ trên dăy núi cao đă không chịu nổi cơn gió và nước chảy xiết đă gây ra lở đất. Sáng sớm ngày thứ hai, trước khi tia sáng ban ngày tới được thung lũng bên dưới, trong khi chúng tôi vẫn c̣n trong ánh sáng phát quang ngay trước lúc b́nh minh của những ngọn núi, một tảng đá lớn từ trên đỉnh rơi xuống chúng tôi. Chúng tôi nghe tiếng nó đang đến và cố túm tụm vào với nhau, cố gắng thu ḿnh nhỏ nhất có thể. Nó rơi xuống như thể những con quỷ đang lái xe lao vào chúng tôi từ trên bầu trời. Nố gầm rống lên ở bên dưới, kèm theo đó là cơn mưa của những tảng đá. Tiếng va chạm và rung lên kinh hoàng khi nó đập vào mảnh đất phía trước chúng tôi. Ŕa đá rung và lắc dữ dội, và một đoạn dài khoảng bốn mét rơi ra và vỡ tan tành. Gần như ngay sau đó, từ bên dưới vọng đến tiếng vang và rung chuyển của những mảnh đá rơi. Vậy là người bạn của chúng tôi đă được chôn cất.

Thời tiết dường như trở nên tệ hơn. Chúng tôi quyết định sẽ lên đường vào sớm ngày hôm sau trước khi chúng tôi bị ngăn chặn hoàn toàn. Thiết bị của chúng tôi, có thể gọi như vậy, đă được sửa sang cẩn thận. Những sợi dây thừng đă được thử nghiệm, và những con la đă được kiểm tra từng vết loét hay vết cắt. Vào lúc b́nh minh ngày hôm sau, thời tiết có vẻ dịu đi một chút. Chúng tôi rời đi với cảm giác vui thích khi nghĩ về việc trở về nhà. Lúc này chúng tôi là một đội mười một người thay v́ mười lăm người rất phấn khởi ngày lên đường. Ngày qua ngày, chúng tôi lê bước, chân đau và mệt mỏi, những con la của chúng tôi chở những bao tải đầy thảo mộc. Chúng tôi đi chậm, thời gian chẳng có ư nghĩa ǵ với chúng tôi cả. Chúng tôi di chuyển một cách khó khăn nặng nhọc trong t́nh trạng mê mụ v́ kiệt sức. Thời gian này chúng tôi chỉ có một nữa khẩu phần ăn, và thường xuyên đói.

Cuối cùng chúng tôi lại nh́n thấy cái hồ một lần nữa, và chúng tôi vô cùng sung sướng khi nh́n thấy một đoàn dân chăn ḅ gần đó. Các thương nhân chào đón chúng tôi, thúc giục chúng tôi ăn và uống trà, và làm mọi cách để có thể giảm bớt t́nh trạng kiệt sức của chúng tôi. Chúng tôi bị rách nát và bầm dập. Áo choàng của chúng tôi rách rưới, và chân chúng tôi bị chảy máu ở những vết rộp lớn đă bị vỡ. Nhưng chúng tôi đă đến cao nguyên Chang Tang và trở về! Sư phụ tôi đă hai lần đến đó, có lẽ thầy tôi là người duy nhất trên thế giới đă thực hiện hai chuyến đi như vậy.

Các thương nhân đă chăm sóc chúng tôi rất tận t́nh. Ngồi ṿng quanh bên đống lửa đốt bằng phân ḅ yak trong đêm tối, họ lắc đầu ngạc nhiên khi chúng tôi kể về hành tŕnh của ḿnh. Chúng tôi thích những câu chuyện của họ về các chuyến đi đến Ấn Độ , và về những cuộc gặp gỡ với các thương nhân khác đến từ Hindu Kush. Chúng tôi rất tiếc khi phải chia tay với những người đàn ông này và mong là họ sẽ đi cùng đường với chúng tôi. Nhưng họ vừa mới xuất phát từ Lhasa, trong khi chúng tôi đang trở về đó. V́ thế, vào buổi sáng, chúng tôi quyến luyến chia tay nhau với lời chúc tốt lành.

Nhiều nhà sư không tṛ chuyện với các thương nhân, nhưng Đại Đức Mingyar dạy rằng tất cả mọi người đều b́nh đẳng: chủng tộc, màu da, hay tín ngưỡng đều không có ư nghĩa. Chỉ có mục đích và hành động mới là đáng kể mà thôi.

Bây giờ sức khỏe của chúng tôi đă khá hơn, chúng tôi tiếp tục đi về nhà. Vùng quê đă trở nên xanh tươi hơn, màu mỡ hơn, và cuối cùng chúng tôi đă nh́n thấy mái vàng lấp lánh của cung điện Potala và tu viện Chakpori thân thiết của chúng tôi, chỉ cao hơn Peak một chút. La là giống vật khôn ngoan, chúng vội vă đi đến nhà của chúng ở làng Sho, và chúng kéo mạnh đến nỗi chúng tôi rất khó khăn để giữ chúng lại. Người ta có thể nghĩ rằng chúng đă đến Chang Tang chứ không phải chúng tôi!

Chúng tôi vui mừng đi trên con đường lát đá lên ngọn Thiết Sơn. Niềm vui được trở về từ Chambala, như cách chúng tôi gọi miền bắc băng giá.

Bây giờ bắt đầu ṿng tiếp đón chúng tôi, nhưng trước tiên chúng tôi nh́n thấy Đấng Thái Tuế. Ngài phản ứng sôi nổi. “Các vị đă làm được những điều mà tôi muốn làm, nh́n thấy những ǵ mà tôi tha thiết mong muốn được xem. Ở đây tôi có “mọi quyền lực”, nhưng tôi là một tù nhân giữa những người của tôi. Càng có nhiều quyền lực, càng ít tự do: cấp bậc càng cao, càng có nhiều gia nô. Và tôi sẵn sàng từ bỏ tất cả để được nh́n thấy những ǵ mà các vị đă thấy.”

Đại Đức Mingyar, với vai tṛ trưởng đoàn thám hiểm, đă được trao khăn danh dự , với ba nút thắt màu đỏ . V́ tôi là người trẻ tuổi nhất trong đoàn nên tôi được vinh danh tương tự . Tôi cũng biết rơ rằng một phần thưởng tại “hai đầu” bao gồm mọi thứ ở giữa!

Trong nhiều tuần sau đó, chúng tôi đi đến các tu viện khác, để giảng giải, phân phối các loại thảo dược đặc biệt, và để cho tôi có cơ hội được ngắm nh́n các quận khác. Lần đầu tiên chúng tôi được đến thăm “Tam đỉnh viện”, Drepung, Sera, và Ganden. Từ đó chúng tôi đi xa hơn, tới Dorjethag, và tới Samye, cả hai nơi này đều ở bên bờ sông Tsangpo, cách xa hơn sáu chục cây số. Chúng tôi cũng đến thăm tu viện Samden, nằm giữa các hồ Du-me và Yamdok, cao hơn bốn ngh́n mét so với mực nước biển. Đó cũng là một sự trợ giúp để theo hành tŕnh trên sông Kyi Chu của riêng chúng tôi. Đối với chúng tôi nó thực sự được đặt tên rất ư nghĩa, ḍng sông Hạnh phúc.

Việc học của tôi vẫn được duy tŕ liên tục, trong khi cưỡi ngựa, trên đường, khi dừng, và cả khi tôi nghỉ ngơi. Lúc này, thời gian cho kỳ thi lên cấp Lạt ma đă đến gần, và v́ thế chúng tôi trở lại Chakpori một lần nữa để tôi không bị phân tâm.
Like Like x 1 View List

Offline Huệ Từ

  • Jr. Member
  • **
  • Posts: 53
CHƯƠNG XVI: TÔI ĐƯỢC TẤN PHONG LẠTMA



Chính trong thời kỳ này tôi được thụ huấn ráo riết về phương pháp xuất thần đi vào cảnh giới vô h́nh. Nhiều người không tin rằng sự xuất thần như thế có thể thực hiện được, nhưng thật ra th́ tất cả mọi người đều có trải qua hiện tượng xuất thần đi vào cảnh giới vô h́nh trong giấc ngủ. Có điều khác là những người b́nh thường tuy có xuất thần trong giấc ngủ mà không hề hay biết, c̣n các hành giả có tu tập th́ có thể chủ động xuất thần một cách tùy ư.

Những phương pháp tu tập này là hoàn toàn xa lạ ở phương Tây, v́ thế mà người ta thường hiểu biết rất ít về ư nghĩa thật sự của những giấc mộng. Mặc dù vậy, hầu hết các nền văn minh cổ ở khắp nơi trên thế giới đều biết hiện tượng xuất thần. Ngay tại Anh quốc, người ta cũng truyền tụng về những bà phù thủy đă từng nổi tiếng với nhiều quyền năng kỳ bí, trong đó có khả năng xuất thần. Tôi đă được dạy làm điều đó, v́ thế mọi người đều có thể làm được.

Tôi cũng được học một môn học bí truyền khác là môn thần giao cách cảm. Nhiều người trước đây hoàn toàn không tin vào khả năng này của con người, nhưng thật đáng mừng là ngày nay người ta đă bắt đầu hiểu biết và nh́n nhận đúng hơn về khoa học này.

Chúng tôi cũng hành cả khoa thôi miên. Chính tôi đă thực hiện nhiều cuộc giải phẫu quan trọng cho những bệnh nhân được đưa vào trạng thái thôi miên, như trong trường hợp cắt bỏ một chân chẳng hạn. Bệnh nhân không cảm thấy đau đớn ǵ cả và khi thức tỉnh th́ thể trạng của họ c̣n khả quan hơn so với việc sử dụng thuốc mê theo phương pháp cổ điển. H́nh như bên Anh quốc hiện nay người ta đă bắt đầu áp dụng khoa thôi miên trong một vài trường hợp giải phẫu.

Tàng h́nh là nghệ thuật huyền bí khác nữa. Thật tốt là hiếm người có thể tàng h́nh. Nguyên tắc th́ dễ: thực hành rất khó. Hăy nghĩ xem điều ǵ thu hút bạn. Tiếng ồn chăng? Chuyển động chớp nhoáng hay màu sắc lấp lánh? Những tiếng ồn và hành động chớp nhoáng thu hút người ta, làm cho họ chú ư tới chúng. Một người bất động không dễ bị nh́n thấy, cũng như vậy với những người không phải là một dạng hay một loại người “quen thuộc”. Chẳng hạn  như người đưa thư, thường th́ người ta sẽ nói rằng “không có ai ở đây cả, chẳng có ai hết”, nhưng thư của họ vẫn được mang đến. Bằng cách nào vậy, do một người vô h́nh chăng? Hoặc người là h́nh ảnh quen thuộc đến nỗi như không nh́n thấy hoặc không nhận thấy anh ta (một người cảnh sát chẳng hạn, gần như những người có lương tâm tội lỗi đều nh́n thấy!) Để đạt được trạng thái vô h́nh người ta phải tạm thời ngừng hoạt động, và tạm dừng phát sóng năo! Nếu như bộ năo được phép hoạt động (suy nghĩ chẳng hạn), th́ khi đó bất kỳ người nào ở gần đều có thể nhận biết (nh́n thấy) bằng khả năng liên lạc bằng ngoại cảm và v́ vậy trạng thái vô h́nh sẽ bị mất đi. Ở Tây Tạng có những người có thể trở nên tàng h́nh theo ư muốn, họ có khả năng che đậy được sóng năo của họ . Có lẽ là may mắn khi chỉ có rất ít người có khả năng này.

Khinh thân có thể thực hiện được, và đôi khi chỉ là v́ bài tập kỷ thuật liên quan. Nó chỉ là một phương pháp di chuyển vụng về để đi lanh quanh nhưng lại cần rất nhiều nổ lực tập luyện. Những người thực sự lăo luyện dùng cách di chuyển bằng thể vía, mà nó thực sự vô cùng đơn giản là … chỉ cần có được sự chỉ dẫn đúng đắn. Tôi đă và có thể (và có khả năng) du hành bằng thể vía. Tôi không tập được phép tàng h́nh dù rất nổ lực. Thật là một ân huệ nếu tôi có thể biến mất khi trót làm điều ǵ đó không hay ho ǵ cho lắm, nhưng tôi không có may mắn đó.

Tôi không có năng khiếu về âm nhạc, như đă nói trước đây. Tôi chỉ vừa mở miệng hát là đủ làm cho vị nhạc sư nổi trận lôi đ́nh, quát tháo ầm ĩ. Nhưng cơn giận này c̣n chưa thấm vào đâu so với cơn náo loạn mà tôi gây ra một ngày nọ . Trong khi tập đánh chập chơa, một loại nhạc khí mà tôi cho là bất cứ ai cũng chơi được, nhưng không biết tôi vụng về thế nào lại vô t́nh tôi chộp ngay vào cái đầu trọc của một nhà sư ngồi gần bên!

Một cơn náo động và phản đối ầm ĩ đă diễn ra ngay sau đó. Và thế là người ta không ngần ngại mà thẳng thừng yêu cầu tôi hăy giới hạn những sinh hoạt của ḿnh trong lănh vực thần nhăn và y khoa mà thôi!

Chúng tôi cũng thực hành rất nhiều về pháp môn yoga, một khoa học rất quan trọng có thể chuyển hóa con người đến một mức độ phi thường. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng pháp mônYoga có lẽ không dành cho người phương Tây, trừ phi người ta đă đưa vào đó rất nhiều sự thay đổi thích hợp với lối sinh hoạt và tính chất của người phương Tây.

Pháp môn này đă quen thuộc với người Tây Tạng từ nhiều thế kỷ . Họ đă quen tập luyện những tư thế Yoga từ thời thơ ấu. V́ thế, cả thân thể, tứ chi, gân xương, bắp thịt của họ đều đă được tập luyện thuần thục. Trái lại, người Tây phương khi thử bắt chước tập những tư thế đó sẽ gặp nhiều nguy hiểm, nhất là những người đă lớn tuổi.
Một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh rằng cần có một người hướng dẫn bản địa, người đă được huấn luyện kỹ lưỡng về giải phẫu học để tránh những nguy hại có thể xảy ra.

C̣n phép luyện hơi thở – hay khí công - cũng là một điều rất nguy hiểm. Tập thở theo một phương pháp nhất định, đó là bí quyết của nhiều hiện tượng lạ lùng. Nhưng, cần lặp lại một lần nữa rằng phép luyện khí công có thể có hại, nếu không nói là nguy hiểm đến tánh mạng, trừ phi hành giả được sự chỉ dẫn của một bậc danh sư có nhiều kinh nghiệm.

Nhiều du khách đến viếng Tây Tạng có viết truyện kể lại về những vị Lạt-ma có thuật phi hành (khác với khinh thân), họ có thể kiểm soát trọng lượng của thân thể họ và chạy nhanh hết tốc lực trong nhiều giờ, với hai chân rất ít khi chấm đất.

Thuật phi hành đó đ̣i hỏi một công phu tập luyện lâu dài, và người phi hành phải tự đặt ḿnh trong một trạng thái bán thôi miên. buổi chiều là giờ tốt nhất để tập luyện v́ hành giả có thể nhắm hướng sao mà chạy. Mặt đất phải bằng phẳng, không chướng ngại để khỏi làm gián đoạn trạng thái tập trung. Hành giả thường phải chạy trong trạng thái như một người mộng du (somnambule).

Hành giả h́nh dung về đích đến của ḿnh, giữ nó liên tục trước con mắt thứ ba của anh ta, và không ngừng tŕ tụng thần chú thích hợp. Anh ta sẽ chạy hàng giờ, và đạt đến đích không mệt mơi. Phương pháp này chỉ có một lợi thế so với du hành bằng thể vía. Khi di chuyển bằng thể vía, hành giả di chyển trong trạng thái tinh thần và v́ thế không thể di chuyển những đồ vật vật chất, chẳng hạn, không thể mang theo hành lư của người đó. Arjopa, như cách người ta gọi các “tay đua”, có thể mang theo hành lư thông thường của ḿnh, nhưng ngược lại, hành giả bị chậm chạp và khó khăn v́ sự bất lợi đó.

Nhờ kiểm soát sự hô hấp bằng phương pháp luyện khí công nên các hành giả Tây Tạng có thể ngồi ḿnh trần trên những vùng núi non đầy băng tuyết ở độ cao đến năm hay sáu ngàn thước so với mực nước biển, nhưng vẫn cảm thấy nóng đến nỗi làm băng tuyết tan ră và bản thân họ toát mồ hôi như tắm.
Like Like x 1 View List

Offline Huệ Từ

  • Jr. Member
  • **
  • Posts: 53

Bạn có bao giờ thử nhấc một vật nặng sau khi đă thở ra hết khí trời trong phổi? Bạn hăy thử xem rồi sẽ thấy rằng không thể làm được. Nhưng nếu bạn hít vào một hơi rất sâu và giữ lại hơi thở trong phổi, bạn sẽ có thể nhấc vật nặng ấy lên một cách dễ dàng hơn. Trong trường hợp bạn cảm thấy sợ sệt hay nóng giận, sau khi đă hít một hơi dài vào phổi, bạn hăy giữ lại hơi thở trong mười giây đồng hồ. Kế đó, bạn để cho không khí thoát ra từ từ. Nếu bạn lặp lại phép thở này ít nhất là ba lần, tim sẽ đập chậm hơn và bạn cảm thấy b́nh tĩnh lại.

Đây là những điều mà bất cứ ai cũng có thể thử mà không nguy hại ǵ. Hiểu biết về việc kiểm soát hơi thở đă giúp tôi chịu đựng được những đ̣n tra tấn của người Nhật và nhiều đ̣n tra tấn hơn nữa khi tôi là tù nhân của Trung Quốc. Người Nhật vào lúc tồi tệ nhất c̣n không tệ bằng người Trung Quốc! Tôi biết về họ , biết về những điều xấu xa nhấtộcủa người Nhật và Trung Quốc.

Rồi cũng đến thời điểm thích hợp để tôi tham dự cuộc thi chính thức đưa tôi lên chức vị Lạt-ma. trước khi dự thi tôi được đến nhận lănh ân huệ của đức Đạt-lai Lạt-ma. Mỗi năm, đức Đạt-lai Lạt-ma ban ân huệ cho tất cả các nhà sư Tây Tạng. Dù vậy, Ngài vẫn ban ân huệ riêng cho từng người chứ không phải thực hiện chung cho tất cả như đức Giáo hoàng La Mă. Trong đa số trường hợp, Ngài ngồi trên ngai, tay cầm một cái cần dài như cần câu, có buộc tua vải ở một đầu, và để cái tua ấy chấm lên đầu của một nhà sư hay tín đồ hành hương.
Ngài cũng đặt một bàn tay lên trán của những người mà Ngài muốn ban cho danh dự hoặc đối với những vị chức sắc cao cấp. Ban ân huệ với cả hai bàn tay để lên trán một người nào đó là một đặc ân rất hiếm có, và ngài đă ban cho tôi cái ân huệ đó lần đầu tiên trong đời tôi. Trong khi ấy, Ngài nói nhỏ : ‘Con ơi, con đă làm việc rất tốt. Con hăy gắng làm tốt hơn nữa trong kỳ thi này, để chứng minh rằng sự tin tưởng mà chúng ta đặt nơi con là chính xác.’

Ba ngày trước ngày sinh nhật mười sáu tuổi, tôi dự thi cùng với mười bốn thí sinh khác. Những gian pḥng thi cá nhân có vẻ như nhỏ hẹp hơn trước, chắc là v́ tôi đă lớn. Khi tôi nằm trên sàn nhà, chân tôi đạp vào tường, tôi có thể đưa tay qua đầu, với cánh tay co lại là đủ để chạm được vào bức tường đối diện. Căn pḥng h́nh vuông, tôi có thể với tay qua đầu là chạm được vào cạnh trên của bức tường phía trước. Bức tường phía sau cao gấp đôi chiều cao của tôi. Căn pḥng không có mái, v́ vậy ít nhất th́ chúng tôi có dư giả không khí! Một lần nữa chúng tôi bị lục soát trước khi vào, và tất cả chúng tôi được phép mang theo bát gỗ , tràng hạt, và đồ dùng để viết của ḿnh vào pḥng thi. Các giám thị hài ḷng dẫn chúng tôi đến pḥng thi riêng của từng người, và sau khi chúng tôi bước vào pḥng, cánh cữa pḥng được đóng lại và chốt bằng một thanh ngang ở bên ngoài. Sau đó vị Sư trưởng và ngài Trưởng Giám thị đến và gắn dấu niêm phong to để không thể mở cữa ra được. Một cái lẫy sập khoảng hơn năm mươi phân vuông chỉ có thể mở được từ bên ngoài.

Mỗi buổi sáng, ban giám khảo đưa cho chúng tôi đề thi để làm trong ngày. Các bài làm sẽ được thu nhận vào buổi chiều.

Chúng tôi chỉ được ăn món tsampa mỗi ngày một lần, c̣n trà pha bơ th́ uống tự do tùy thích. Nhưng v́ chúng tôi không được phép ra khỏi pḥng thi với bất cứ lư do ǵ, nên chúng tôi cũng không uống quá nhiều!

Tôi phải ở lại tất cả mười ngày trong pḥng thi. Cuộc thi bắt đầu với những bài vở về môn thảo dược, giải phẫu học mà tôi đă nắm vững các chủ đề, và môn thần học. Những bài thi này chiếm toàn bộ thời gian trong ngày của tôi, từ lúc b́nh minh đến khi ánh sáng cuối cùng vừa tắt, trong năm ngày dường như là vô tận.

Qua ngày thứ sáu, một trong những thí sinh bị một cơn khủng hoảng thần kinh. Điều đó làm cho chúng tôi xúc động rất nhiều. Từ một pḥng thi cá nhân ở cạnh pḥng tôi bỗng phát ra những tiếng hét lớn và rú lên rợn người. Tôi nghe có tiếng chân người dồn dập, những giọng nói, và tiếng mở cửa. Có tiếng nói êm dịu, vỗ về, an ủi của một người; kế đó là những tiếng khóc thổn thức nối tiếp theo những tiếng kêu rú. Thế là, cuộc thi đă chấm dứt đối với thí sinh ấy.

Đối với tôi, phần thứ nh́ của cuộc thi mới bắt đầu. Người ta đem đề thi ngày đó đến cho tôi trễ mất một giờ. Hôm ấy là bài làm về môn Siêu h́nh học Yoga. Tất cả có chín pháp môn Yoga. Và tôi phải được chấm điểm ưu trong tất cả các môn!

Người Tây phương thường chỉ biết một cách nông cạn về năm pháp môn Yoga: Pháp môn Hatha Yoga để tu luyện xác thân, hay “phương tiện biểu lộ ” như cách gọi của chúng tôi; Kundalini Yoga để luyện các năng khiếu thần thông như thần nhăn, thần nhĩ v..v… Laya Yoga để luyện tinh thần và trí nhớ , một phần tu luyện pháp môn này là nhớ vĩnh viễn điều vừa đọc hoặc nghe thấy; Rja Yoga để chuẩn bị cho con người đạt tới tâm thức siêu việt và sự minh triết. Samadhi Yoga đưa đến trạng thái giác ngộ tối thượng, nhờ đó hành giả thấu triệt được ư nghĩa và bản chất thật sự của vạn hữu và kế hoạch xa hơn cả sự sống trên Trái đất.

Chính sự thực hành môn Samadhi Yoga giúp cho hành giả có khả năng đạt tới chân lư tối thượng; và chính nhờ pháp môn này mà con người có thể thoát ra khỏi ṿng luân hồi sinh tử . Đối với những hành giả chưa đạt đến sự giải thoát hoàn toàn, pháp môn này cũng giúp cho họ có khả năng tái sinh tùy ư ở thế gian với một mục đích nhất định, chẳng hạn như để giúp đỡ phụng sự nhân loại và tiếp tục tiến tŕnh tu tập để đạt đến sự giác ngộ tối thượng.

Các pháp môn yoga khác không thể thảo luận được trong cuốn sách thuộc loại này, và chắc chắn khả năng tiếng anh của tôi không xứng với đề tài cao quư như vậy.
Trong năm ngày c̣n lại, tôi rất bận rộn với những bài thi cuối cùng, như con gà ấp trứng trong ổ . Nhưng dầu cho những cuộc thi kéo dài đến mười ngày, rồi cũng phải có lúc chấm dứt. Và buổi chiều ngày thứ mười, khi vị Lạt-ma phụ trách đến nhận bài làm, ông được chúng tôi tiếp đón với những nụ cười sung sướng, thoải mái. Lần đầu tiên, người ta dọn cho chúng tôi ăn rau cùng với tsampa là món ăn căn bản của chúng tôi trong suốt mười ngày qua.

Đêm ấy, tôi ngủ một giấc say sưa ngon lành. Tôi không nghi ngờ ǵ kết quả cuộc thi, nhưng chỉ e ngại về kết quả xếp hạng; v́ tôi được kỳ vọng là phải có tên trong số những người đổ đầu. Vào buổi sáng, dấu niêm phong được phá vỡ , các thanh chốt cữa được tháo bỏ , và chúng tôi phải làm sạch pḥng thi của ḿnh trước khi ra khỏi đó.
Thi viết xong, chúng tôi được nghỉ ngơi trọn một tuần lễ để lấy lại sức sau thử thách lớn lao. Kế đó là trọn hai ngày thi về môn quyền thuật, vơ nghệ. Ngoài ra các cuộc đấu vơ, c̣n có môn “điểm huyệt” là môn bí truyền làm cho người ta trở nên bất động, không c̣n cảm giác.

Hai ngày tiếp là dành cho phần sát hạch về những điểm yếu kém trong ác bài thi viết. Mọi thí sinh đều bị hạch hỏi, chất vấn trong suốt hai ngày liền. Rồi sau một tuần lễ nghỉ ngơi và chờ đợi, cuối cùng kết quả cuộc thi cũng được công bố. Tôi vui mừng vô hạn, một sự vui mừng mà tôi không ngần ngại biểu lộ ra ngoài một cách ầm ĩ, khi được biết là tôi đỗ thủ khoa.
Kết quả này làm tôi sung sướng v́ hai lư do. trước hết, trong suy nghĩ của tôi lúc đó th́ nó chứng minh rằng Đại đức Mingyar là vị đạo sư tài giỏi hơn so với tất cả các vị khác, và kế đó là đức Đạt-lai Lạt-ma sẽ hài ḷng về cả hai thầy tṛ chúng tôi.

Vài ngày sau, tôi đang làm việc trong pḥng của sư phụ tôi th́ cánh cữa th́nh ĺnh mở toang và một sứ giả mồ hôi nhễ nhại, bụi bặm đầy ḿnh, hối hả bước vào vừa thè lưỡi thở dốc vừa nói: ‘Bạch ngài Lạtma Y sĩ Lobsang, có thông điệp của đức Đạt-lai Lạt-ma.’

Ông ta lấy trong áo ra và đưa cho tôi một bức thư bọc trong một khăn quàng lụa theo nghi lễ thông thường. Kế đó, ông ta quay gót lui ra. 

Tôi đặt bức thơ xuống bàn, nhưng chưa mở ra với. Thư ấy gửi cho tôi, nhưng nó nói ǵ trong đó? Chỉ thị bảo tôi học thêm các môn học thuật khác nữa chăng? Hoặc làm việc nhiều hơn nữa chăng? Nó trông rất to và rất trịnh trọng. Trong một lúc lâu tôi không mở thư, tôi không thể biết có ǵ trong đó, v́ thế cũng chẳng trách được là đă không làm ǵ đó. Những suy nghĩ đầu tiên của tôi là như vậy.

Sư phụ tôi mỉm cười về sự băn khoăn do dự của tôi; tôi bèn cầm đưa cho người cả bức thư và cái khăn quàng. Sư phụ mở phong b́ và lấy ra hai mảnh giấy xếp. Người mở ra và đọc, chậm răi như muốn trêu chọc tôi. Cuối cùng, khi tôi bồn chồn không chịu được nữa, lúc đó Người mới nói: ‘Hay lắm, con có thể thở được rồi. Chúng ta phải đến điện Potala ngay bây giờ, không trễ một phút. Ta cũng được mời.’

Sư phụ gơ một tiếng cồng; một người phục vụ xuất hiện. Sư phụ bèn ra lệnh cho ông ta lập tức thắng yên hai con ngựa bạch.
 
Sau khi đă thay áo và chọn hai cái khăn quàng đẹp nhất, chúng tôi đến báo cho vị Sư trưởng biết rằng đức Đạt-lai Lạt-ma cho gọi chúng tôi đến điện Potala. Sư trưởng hỏi: ‘Quư vị đi đến điện Potala ngay bây giờ sao? Lạ thật, mới ngày hôm qua đây, đức Đạt-lai Lạt-ma hăy c̣n ở vườn Ngọc Uyển. Nhưng nếu quư vị có thư mời th́… chắc hẳn đây là một việc rất hệ trọng.’

Những nhà sư giữ ngựa đợi chúng tôi ngoài sân với hai con ngựa trắng. Chúng tôi lên yên và cho ngựa đi xuống dưới chân đồi. Trong chốc lát chúng tôi đă đến điện Potala.
Thật ra từ chỗ tu viện của chúng tôi đến điện không xa, lẽ ra tôi không cần phải nhọc sức ngồi vững trên yên ngựa với một quăng đường ngắn như thế! Nhưng điều tiện lợi duy nhất là chúng tôi có thể cưỡi ngựa đi lên cái cầu thang lớn đưa chúng tôi đến tận nơi, gần nóc điện Potala.

Khi chúng tôi vừa đặt chân xuống đất, những người phục vụ đă đợi ở đây từ trước, bèn bước đến đỡ lấy cương ngựa dắt đi, và chúng tôi được đưa thẳng vào tư thất của đức Đạt-lai Lạt-ma.

Tôi bước vào một ḿnh, qú xuống đặt cái khăn quàng dưới chân Ngài rồi cúi đầu đảnh lễ như thường lệ. Ngài nói: ‘Con hăy ngồi đi, Lobsang. Ta rất hài ḷng về con và Đại đức Mingyar. Nhờ công khó dạy dỗ của sư phụ con mà con mới có được thành công trong kỳ thi vừa rồi. Chính ta đă đích thân xem các bài vở của con.’

Nghe Ngài nói, tôi cảm thấy một cơn rùng ḿnh chạy dọc theo tủy xương sống. Tính hài hước của tôi có đôi khi đặt sái chỗ ; đó là một trong những điểm yếu kém của tôi, theo như người ta thường nói. Sự hài hước ấy đă biểu lộ trong kỳ thi vừa qua v́ trong khi giải đáp các đề thi, tôi đă viết nhiều câu hơi có vẻ xúc phạm! Đức Đạt-lai Lạtma chắc hẳn đă đọc được tư tưởng của tôi v́ Ngài bật cười và nói: ‘Phải đó, tính hài hước của con đă biểu lộ không đúng lúc, nhưng…’ Ngài ngừng lại trong một cơn im lặng kéo dài, trong khi đó tôi hồi hộp chờ đợi một sự chẳng lành. ‘… nhưng tất cả những câu giải đáp của con đều làm cho ta rất thích thú.’

Tôi tiếp chuyện suốt hai giờ đồng hồ với đức Đạt-lai Lạt-ma. Kế đó Ngài ch o gọi sư phụ tôi vào để dặn ḍ về cách sắp xếp việc học của tôi trong thời gian tới. Tôi phải chịu một cuộc thử thách về sự chết giả, viếng nhiều tu viện khác và thực tập môn cơ thể học với bọn âm công mổ xẻ xác người chết. Những người này thuộc về một giai cấp hạ tiện, và công việc của họ có phần đặc biệt đến nỗi đức Đạt-lai Lạt-ma đặc cách cho phép tôi làm việc chung với họ mà vẫn giữ nguyên chức vị Lạt-ma của tôi. Ngài ra lệnh cho những âm công: ‘Hăy dành cho vị Lạt-ma Lobsang mọi sự giúp đỡ và trợ lực cần thiết; tiết lộ cho vị Lạt-ma những bí mật trong các cơ thể để cho người có thể biết được những nguyên nhân vật chất của những trường hợp tử vong; và dành cho người bất cứ tử thi nào mà người cần dùng đến để học hỏi, khám nghiệm.’

Trước khi nói đến cách chôn cất tử thi ở xứ Tây Tạng, thiết tưởng cũng cần nói qua vài chi tiết phụ thuộc về quan niệm của người Tây Tạng đối với sự chết. 
Like Like x 1 View List

Offline Huệ Từ

  • Jr. Member
  • **
  • Posts: 53


Thái độ của người Tây Tạng về sự chết hoàn toàn khác hẳn với người Tây phương. Họ quan niệm rằng thể xác con người chỉ là một “lớp vỏ” cái vỏ vật chất bên ngoài bao bọc một linh hồn bất tử bên trong. V́ thế, đối với họ th́ một tử thi c̣n kém giá trị hơn một miếng giẻ rách. Trong trường hợp chết tự nhiên, nghĩa là không phải do tai nạn bất đắc kỳ tử , th́ diễn biến sự chết theo quan niệm của người Tây Tạng là: Thể xác mệt mỏi, già cỏi, trở nên bất tiện cho linh hồn đến mức không thể tiếp tục học tập được nữa. Đó là lúc cần phải rời khỏi thể xác vật chất. Từ từ linh hồn rút khỏi và thể hiện ra ngoài cơ thể vật chất. H́nh dạng linh hồn có nét ngoài chính xác như phiên bản vật chất, và có thể nh́n thấy được rơ ràng bằng thần nhăn. Vào thời điểm con người chết, sợi dây nối cơ thể vật chất với linh hồn (trong Kinh Thánh gọi là “sợi chỉ bạc”) tan dần và tách ra, và linh hồn trôi đi. Cái chết sau đó diễn ra. Nhưng cũng là sự sinh ra trong một cuộc đời mới, “sợi dây” giống như sợi dây rốn được cắt đứt để em bé mới sinh khởi đầu một cuộc sống độc lập. Vào thời điểm chết, ánh linh quang của sức sống tắt dần trên đỉnh đầu. Ánh linh quang này cũng có thể nh́n thấy được bằng thần nhăn, và trong Kinh Thánh được gọi là “Bát Vàng”. Không phải là một tín đồ Cơ Đốc tôi không quen thuộc với Kinh Thánh, nhưng tôi tin rằng có sự liên quan tới “Sợ rằng sợi chỉ bạc bị đứt, và Bát Vàng bị vỡ ra”.

Người Tây Tạng tin rằng phải sau một thời gian ba ngày thể xác mới thật sự chết hẳn, nghĩa là mọi hoạt động của cơ thể mới hoàn toàn chấm dứt, và thần thức, linh hồn, hay là chân nhân được hoàn toàn giải thoát khỏi lớp vỏ xác thịt vật chất. Lạt-ma giáo (Lamaisme) của xứ Tây Tạng cho rằng có thể phách được tạo thành trong suốt cuộc đời của thể xác. Thể phách này có thể trở thành ma. Có lẽ mọi người đều đă nh́n vào một ánh sáng mạnh, và khi quay đi h́nh như thấy ánh sáng vẫn c̣n. Chúng tôi cho rằng sự sống là điện, là trường sinh lực, và thể phách c̣n lại sau khi chết tương tự như ánh sáng mà người ta nh́n thấy sau khi nh́n vào một nguồn sáng mạnh mẽ, hay theo thuật ng về điện, nó giống như từ trường mạnhọc̣n lại. Nếu cơ thể có lư do mạnh mẽ để nấn ná s sống, th́ sau đó thể phách mạnh mẽ có thể sẽ tạo thành một bóng ma và thường lui tới những nơi quen thuộc. Một người keo kiệt có thể có ḷng quyến luyến tiền bạc đến nổi tập trung tất cả khát vọng vào chúng. Khi chết có lẽ ư nghĩ cuối cùng của ông ta là lo sự về số phận của những đồng tiền của ḿnh, v́ thế tại thời điểm ông ta chết, ông ta gia tăng thêm sức mạnh cho thể phách của ḿnh. Người may mắn được nhận số tiền này có thể sẽ cảm thấy một cái ǵ đó khó chịu trong thời gian ngắn vào buổi đêm. Ông ta có thể cảm thấy rằng “Ông già xấu tính lại bám theo tiền của ḿnh đây”. Vâng, ông ta nói đúng, con ma của ông già xấu tính có lẽ đang ở rất gần mà tay (linh hồn) của ông ta không thể ôm chặt lấy tiền của ḿnh.

Con người có ba thể căn bản: Thể xác thể cấu tạo bằng xương thịt, nhờ đó thần thức có thể dựa vào để h́nh thành một kiếp sống; thể dục vọng được cấu tạo bằng những thèm khát, ham muốn, t́nh cảm, nói chung là những dục vọng của con người; và thể linh hồn, tức là thể tâm linh, hay thần thức. Họ tin rằng người chết phải trải qua ba giai đoạn: Thể xác sẽ phải tiêu diệt; thể dục vọng  cũng sẽ tan ră và thể linh hồn hay thần thức đi theo con đường đưa đến cảnh giới tâm linh. Người Hy Lạp cỗ cũng tin có thể phách, tin vào sự Hướng dẫn đến cái chết, và tin vào cảnh giới tâm linh. Ở Tây Tạng chúng tôi giúp đỡ người ta trước họ khi chết. Đạo sư không cần sự giúp đỡ đó, nhưng người dân b́nh thường, hoặc các tu sĩ (trappa), cần phải được hướng dẫn trong suốt chặng đường. Có thể đọc giả sẽ quan tâm đến vấn Đề này.

Một hôm, vị Lạt-ma phụ trách nghi lễ cầu siêu cho người chết mời tôi đến và nói: ‘Nay đă đến lúc sư huynh cần học hỏi những phương pháp thực tế về sự giải thoát của linh hồn. Xin mời sư huynh đi theo tôi.’

Sau khi đă đi qua những hành lang dài và xuống những cầu thang trơn trợt, chúng tôi đến chỗ cư xá của các vị y sĩ. Tại đây, trong một pḥng bệnh, một vị sư già đang nằm hấp hối. Một cơn bệnh đă làm cho ông ta yếu sức nhiều, sinh lực của ông ta đă gần cạn và tôi nhận thấy màu sắc trên hào quang ông ta đă phai mờ. Dầu sao, ông ta cũng phải gượng sống cho đến khi không c̣n chút sinh lực nào. Vị Lạt-ma đi cùng với tôi nhẹ nhàng nắm lấy hai bàn tay ông ta và nói: ‘Sư ông đă gần được giải thoát khỏi những dày ṿ của thể xác. Sư ông hăy chú ư nghe những lời tôi nói đây, để có thể được nhẹ bước siêu thăng. Chân sư ông đă lạnh. Cuộc đời sư ông đă tiến gần đến chỗ kết thúc. Cầu cho linh hồn sư ông được b́nh an, v́ sư ông không có ǵ phải sợ sệt. Sinh lực đă rút ra khỏi hai chân sư ông, và đôi mắt sư ông đă mờ. Thân h́nh sư ông đă lạnh, sự sống đă rút lui dần và sắp tắt hẳn. Sư ông hỡi, cầu cho linh hồn sư ông được b́nh an, v́ sự giải thoát ra khỏi cuộc đời thế tục để bước qua cơi tinh thần vốn không có ǵ đáng sợ . Những bóng tối của cơi u minh vô tận đă lởn vởn trước mắt sư ông và hơi thở của sư ông đă tắt nghẽn trong cuống họng. Nay đă đến lúc mà thần thức sư ông sẽ được tự do trong cảnh giới tâm linh. Cầu cho sư ông được b́nh an. Thời điểm giải thoát của sư ông đă đến…’

Vị Lạt-ma vừa nói luôn miệng, vừa lấy bàn tay vuốt nhẹ sau gáy của người hấp hối, từ hai vai lên đến đỉnh đầu, theo một phương pháp đă được chứng nghiệm là có thể giúp đưa linh hồn ra khỏi xác một cách êm ái nhẹ nhàng, không đau đớn.

Tất cả những cạm bẫy trên đường đi qua cảnh giới tâm linh được nói cho người chết biết trước, cùng với phương cách để tránh những cạm bẫy đó. L tŕnh đă được vạch sẵn mộtộcáchọchính xác, do các vị Lạt-ma đă từng thực hành pháp tu luyện xuất thần ngay khi đang sống. Các vị ấy có thể dùng thần giao cáchọcảm để tiếp tục giao tiếp và hư ng dẫn thần thức người chết.

Vị Lạt-ma nói tiếp: ‘Sư ông không c̣n nh́n thấy ǵ nữa, và hơi thở của sư ông đă ngưng hẳn. Toàn thân sư ông đă lạnh và những tiếng động ồn ào của thế gian không c̣n vọng vào tai sư ông được nữa. Sư ông hăy b́nh an, v́ cái chết nay đă đến với sư ông. Sư ông hăy noi theo con đường mà chúng tôi đă vạch sẵn, và sư ông sẽ t́m thấy sự yên tĩnh phúc lạc ở cảnh giới bên kia.’

Vị Lạt-ma vẫn tiếp tục vuốt nhẹ cái gáy và hai vai người chết. Vầng hào quang của ông lăo trở nên mờ dần, và sau cùng th́ biến mất dạng. Khi đó, theo một nghi lễ cỗ truyền tự muôn đời, vị Lạt-ma thốt ra một tiếng kêu ngắn và to để cho linh hồn c̣n đang bám víu lấy thể xác có thể được giải thoát hoàn toàn. Ở phía trên cái xác thân bất động, nguồn sinh lực tập trung lại thành một khối giống như một đám mây khói vần vũ với muôn ngh́n ṿng xoáy, trước khi tượng h́nh giống như cái thể xác mà nó vẫn được kết nối bởi sợi chỉ bạc. Sợi dây mỏng dần, và giống như một em bé được sinh ra khi sợi dây rốn bị cắt đứt, vị sư già sinh vào cuộc đời tiếp sau. Sợi dây mỏng manh dần, giống như sợi chỉ mảnh dần, rồi tách rời ra.
Vào lúc cuối cùng, đám mây sinh lực trở nên mỏng manh và từ từ biến mất, như một đám mây lướt nhẹ trên không gian, hay một đám khói hương tản mác trong đền thờ.

Vị Lạt-ma vẫn tiếp tục những chỉ dẫn cho thần thức người chết bằng thần giao cách cảm và d́u dắt thần thức trong giai đoạn đầu tiên của cuộc phiêu lưu sang cảnh giới vô h́nh. ‘Sư ông đă chết rồi. Ở đây không c̣n ǵ cho sư ông nữa cả. Những sợi dây trói buộc của xác thịt đă bị cắt đứt. Sư ông hiện đang ở trong cảnh giới tâm linh. Sư ông hăy tiếp tục đi theo con đường của ḿnh, c̣n chúng tôi sẽ ở lại trần gian. Sư ông hăy noi theo con đường đă vạch. Hăy từ giă cơi thế gian mộng ảo này và bước vào cảnh giới tinh thần. Sư ông đă chết. Hăy tiếp tục tiến bước trên con đường đă vạch sẵn.’

Khói hương trầm bốc lên thành những ṿng tṛn; mùi hương thơm ngát đem lại sự thanh thản cho bầu không khí phiền muộn. Từ đằng xa vọng lại tiếng trống nghe văng vẳng. Từ trên nóc tu viện rất cao, tiếng kèn trầm hùng phát ra một âm thanh vang dội khắp bốn phương. Theo các hành lang, tất cả những tiếng động ồn ào của cuộc sống hằng ngày vang dội đến tai chúng tôi, chen lẫn với tiếng giày ủng của các nhà sư và tiếng kêu của những con ḅ yak.

Gian pḥng nhỏ của chúng tôi lúc ấy như đắm ch́m trong im lặng. Một cái im lặng của nhà mồ. Trong cái bối cảnh im lặng đó, những chỉ dẫn bằng thần giao cách cảm của vị Lạt-ma là những tiếng thổn thức phớt qua cái yên tịnh của gian pḥng, cũng như ngọn gió nhẹ thoáng qua mặt hồ yên lặng.

Sự chết! Lại có thêm một ông lăo vừa tiếp bước trong cái chu kỳ bất tận của ṿng luân hồi sinh tử ! Có lẽ sau khi đă trải qua những bài học kinh nghiệm của một kiếp người, ông đă tiến được phần nào trên con đường tâm linh, nhưng vẫn c̣n phải tiếp tục với những công phu tu tập trường kỳ bất tận cho đến khi đạt tới quả vị Phật.

Chúng tôi đặt tự thi ngồi theo tư thế hoa sen và cho gọi những âm công cùng với các vị Lạt-ma khác để tiếp tục sự hướng dẫn bằng thần giao cách cảm cho thần thức người chết. Công việc này kéo dài suốt ba ngày ba đêm. Trong thời gian đó, những vị Lạt-ma thay phiên nhau túc trực bên cạnh xác chết.

Sáng ngày thứ tư, một âm công đến để lấy xác. Những âm công là một giai cấp sống trong khu biệt lập ở ngă tư các đường Lingkhor và Dechhen Dzong. Khi ông ta đến nơi, các vị Lạt-ma ngưng việc dẫn dắt thần thức người chết và ông ta nhận lănh tử thi.

Ông ta bọc tử thi trong một cái bao vải trắng, nhẹ nhàng đưa cái bọc lên vai rồi bước ra. Một con ḅ yak đă đợi sẵn ở ngoài. Không chút do dự , ông ta buộc cái bọc lên lưng con ḅ yak rồi cho nó đi đến khu nghĩa địa.

Tại đây, những âm công khác đang chờ sẵn. Gọi là “nghĩa địa” nhưng thật ra chỉ là một khoảnh đất trống ở giữa những núi đồi bao bọc chung quanh, trên đó có sẵn một phiến đá rộng và bằng phẳng, khá lớn để có thể đặt nằm trên đó bất cứ xác chết nào, dù to lớn đến đâu. Có những cây cọc được cắm trong bốn cái lổ đào ở bốn góc. Một phiến đá khác có đục những lổ sâu đến phân nữa bề dày của nó.

Khi tử thi được đặt lên phiến đá đầu tiên, người ta tháo bỏ cái bọc vải, buộc hai bàn chân và hai bàn tay vào bốn cây cọc. Sau đó, viên âm công trưởng mới mổ tử thi ra bằng một con dao lớn. Ông ta xẻ những đường dài trên tử thi để có thể lột da ra từng miếng. Kế đó, ông ta chặt đứt tay chân và cắt thành từng mảnh. Sau cùng, cái đầu được chặt ĺa khỏi xác và chẻ đôi ra.

Khi vừa nh́n thấy người âm công khiêng tử thi đến nơi, những con kên kên bèn hạ cánh bay thấp xuống và đậu trên những tảng đá lớn, chờ đợi một cách kiên nhẫn như những khán giả của một sân khấu lộ thiên. Loài kên kên này cũng có trật tự và kỷ luật rất nghiêm nhặt.

Nếu một con nào “phạm thượng” dám đến gần tử thi trước con “chúa bầy” th́ lập tức sẽ bị trừng trị đích đáng.

Trong khi bọn kên kên t́m chổ đậu th́ người âm công trưởng đă mổ phanh xác chết. Ông ta thọc hai bàn tay vào trong lồng ngực tử thi, móc lấy quả tim và đưa ra cho con kên kên chúa, con này liền nhảy xuống đất một cách nặng nề và đủng đỉnh tiến đến gần để nhận lănh lấy phần ưu tiên của nó. Kế đó con thứ nh́ xuất hiện để nhận lấy lá gan rồi lui vào một góc tảng đá để ăn riêng một ḿnh. Hai trái thận và ruột cũng được chia ra cho những con kên kên vào bậc “đàn anh”. Những miếng thịt được cắt ra từng mảnh và phân phát cho cả đàn. Thỉnh thoảng, có một con đă ăn xong phần ăn của ḿnh, lại đủng đỉnh bước tới để kiếm thêm một miếng óc hoặc một con mắt, trong khi một con khác vừa đáp xuống vừa vổ cánh để kiếm thêm một miếng thịt nữa.

Trong khoảnh khắc, tất cả các bộ phận và da thịt đều trôi vào bụng kên kên, chỉ c̣n lại có những xương xẩu rải rác trên phiến đá. Người âm công, sau khi đă chặt những khúc xương thành từng mảnh nhỏ , liền đem nhét các mảnh vụn ấy vào những cái lổ khoét sâu trên phiến đá thứ nh́, và dùng búa lớn để nghiền nát thành một thứ bột nhuyễn mà loài kên kên rất thích ăn!

Những âm công này đều là những tay thiện nghệ trong việc chặt xác người. Họ rất hài ḷng với nghề nghiệp của họ . Để thỏa măn óc ṭ ṃ, họ thường xem xét tất cả các bộ phận trong tử thi để xác định nguyên nhân sự chết. Những người có nhiều năm kinh nghiệm có thể thực hiện việc khám nghiệm rất mau chóng. Lẽ dĩ nhiên, không có ǵ bắt buộc họ phải chú trọng đến vấn đề này, nhưng truyền thống của nghề nghiệp luôn thúc giục họ phải t́m ra chính xác nguyên nhân đă làm cho thần thức một người phải rời khỏi thể xác.

Nếu một người chết v́ thuốc độc hoặc v́ bị ám sát hay do tai nạn, th́ sự kiện ấy sẽ được phát hiện nhanh chóng. Sự khôn ngoan khéo léo của họ đă giúp ích cho tôi rất nhiều khi tôi học hỏi với họ . Không bao lâu, tôi đă trở nên rất thành thạo về nghệ thuật mổ xẻ tử thi.

Người âm công trưởng đứng gần bên tôi và chỉ dẫn cho tôi những điểm lư thú: ‘Thưa Đại đức Lạt-ma, người này chết v́ bệnh tim. Đại đức hăy nh́n xem, chúng ta sẽ cắt cái mạch máu này… Đây rồi… đại đức có thấy chăng cục máu đông này ngăn chặn sự lưu thông trong huyết quản?’ Hoặc trong một trường hợp khác: ‘Có một cái ǵ bất thường ở người đàn bà này, thưa Đại đức Lạt-ma. Chắc hẳn là một hạch tuyến đă hoạt động sai lệch. Chúng ta hăy thử lấy ra xem th́ biết.’ Kế đó, sau một lúc cắt ra một khối thịt khá lớn, ông ta nói: ‘Đây là cái hạch tuyến, ta hăy cắt ra xem. À, phần trung tâm của nó rất cứng.’ Và sự việc cứ tiếp diễn như thế. Những âm công này lấy làm hănh diện mà chỉ cho tôi xem tất cả những điều ǵ mà họ có thể chỉ được, v́ họ biết rằng tôi học hỏi với họ theo lệnh dạy của đức Đạt-lai Lạt-ma.

Nếu trong khi tôi vắng mặt, có một tử thi đặc biệt vừa được đem đến, th́ họ để dành riêng cho tôi. Như vậy, tôi có thể khám nghiệm hàng trăm xác chết, điều này đă giúp cho tôi trở nên một nhà phẫu thuật ưu tú về sau này!

Sự huấn luyện này c̣n vô cùng hữu hiệu hơn là sự học của những sinh viên y khoa, họ phải chia các tử thi với nhau trong những pḥng mổ xẻ của các bệnh viện. Tôi tin chắc rằng về môn cơ thể học, tôi đă học hỏi với các âm công nhiều hơn là trong trường y khoa có trang bị đầy đủ y cụ tối tân mà tôi đă theo học trong những năm về sau.

Ở Tây Tạng, người ta không thể chôn xác người chết. Đất núi cằn cỗi và lớp đất phủ ở trên quá mỏng làm cho việc đào huyệt rất khó khăn. Việc hỏa táng không thể thực hiện được v́ những lư do kinh tế, cây gỗ rất hiếm và muốn thiêu một xác chết, người ta phải mua củi từ bên Ấn Độ rồi chuyên chở sang Tây Tạng trên lưng những con ḅ yak xuyên qua các đường núi gập ghềnh xa xôi. V́ đó, giá thành sẽ trở nên đắt kinh khủng. Người ta cũng không thể vứt xác chết xuống sông, v́ xác chết sẽ làm nhiễm độc nước sông, gây hại cho người sống. Chỉ c̣n lại cách duy nhất là phương pháp đă diễn tả ở trên, tức là cống hiến xác chết cho loài diều hâu và kên kên ăn thịt.

Việc điểu táng này chỉ khác biệt với sự chôn cất bên Tây phương về hai điểm. trước hết, người Tây phương chôn xác người chết bằng cách để cho loài sâu bọ đóng cái vai tṛ của loài kên kên ở Tây Tạng. Thứ hai là khi người Tây phương chôn xác, họcũng chôn luôn cả mọi khả năng truy ra nguyên nhân của sự chết, thành thử không ai có thể biết chắc rằng cái nguyên nhân ghi trên tờ giấy khai tử có đúng sự thật hay không? Trái lại, những âm công Tây Tạng luôn xác định được nguyên nhân thật sự của sự chết, v́ điều này không bao giờ lọt ra khỏi tầm mắt của họ !

Cách chôn cất này là tục lệ thông thường đối với mọi người dân Tây Tạng, trừ trường hợp của những vị Lạt-ma cao cấp nhất, là những đấng hóa thân. Thi hài các vị này được ướp bằng hương liệu và đặt trong những cái ḥm thủy tinh để trưng bày trong các đền thờ, hoặc ướp hương liệu xong rồi đem phết vàng. Cách làm thứ hai này rất lư thú và tôi đă tham dự nhiều lần như vậy. Một số người Mỹ đă đọc những bản thảo của tôi về vấn Đề này và không tin rằng điều ấy có thể thực hiện được. Họ nói rằng điều đó vượt quá khả năng của “thậm chí người Mỹ có kỹ năng tinh xảo nhất!”

Sự thật người Tây Tạng chúng tôi không hề biết đến kỹ thuật sản xuất đại qui mô, mà chúng tôi chỉ là những người thợ khéo. Chúng tôi không có khả năng chế tạo những đồng hồ đeo tay với giá một đô-la mỗi chiếc. Nhưng chúng tôi có thể sử dụng vàng để ướp xác chết.

Một buổi chiều, vị Sư trưởng cho gọi tôi và nói: ‘Một vị hóa thân sắp sửa bỏ xác. Người đang ở tại tu viện Sera. Ta muốn con hăy đến xem cách họ ướp xác như thế nào.’ Như vậy, một lần nữa tôi lại phải chịu đựng một cuộc hành tŕnh khó nhọc trên lưng ngựa để đến tận Sera. Khi tôi đến tu viện, người ta đưa tôi đến tận pḥng của vị sư trưởng đă già. Những màu sắc trên hào quang của ông đă sắp tắt.

Một giờ sau, ông từ giă thế giới vật chất để bước qua cảnh giới tinh thần. Là một vị sư trưởng và có học vấn sâu rộng, ông không cần đến sự giúp đỡ khi đi vào cảnh giới tâm linh, cũng không cần phải chờ đợi ba ngày như thường lệ. Thi hài ông ta chỉ cần đặt ngồi theo tư thế kiết-già trong một đêm, trong khi các vị Lạt-ma chia nhau túc trực bên cạnh.

Qua hôm sau, vào lúc tảng sáng, một cuộc diễu hành long trọng đi qua thánh thất của tu viện, vào tận chính điện và đi xuống những đường hầm bí mật xuyên qua một cánh cữa ít khi dùng đến.

Trước mặt tôi, hai vị Lạt-ma khiêng tử thi đặt trên một cái cáng. Tử thi vẫn để ngồi theo tư thế hoa sen. Sau lưng tôi, các nhà sư hát thánh ca với một giọng trầm hùng; xen lẫn với âm thanh trong vắt của một cái chuông bạc. Chúng tôi đeo những mảnh vải yểm tâm vàng bên ngoài những áo tràng màu đỏ . Thân h́nh chúng tôi tạo thành những cái bóng đen lung lay và nhảy múa trên tường. Những bóng đen này được phóng đại quá cỡ và méo xệch đi bởi những ánh đèn bơ và ánh đuốc lập ḷe.

Chuyến đi xuống đường hầm kéo dài rất lâu. Sau cùng, cách chừng hai chục thước bề sâu dưới mặt đất, chúng tôi đến trước một cánh cữa bằng đá khóa chặt. Sau khi mở khóa, chúng tôi bước vào một gian pḥng lạnh như băng. Các nhà sư đặt tử thi xuống đất một cách vô cùng cẩn thận và rút lui, chỉ c̣n lại tôi và ba vị Lạt-ma.

Hàng trăm ngọn đèn bơ được thắp lên, tỏa ra một ánh sáng vàng đục và xấu. Tử thi được cởi quần áo ra và tắm rửa sạch sẽ. Từ những lổ trống tự nhiên trên thân thể người chết, người ta moi ra hết những bộ phận nội tạng rồi cho tất cả vào trong những cái vại và đóng chặt.

Kế đó, bên trong thân ḿnh được rửa sạch kỹ lưỡng, để cho thật khô ráo và cho đầy vào trong đó một thứ nhựa đặc biệt. Thứ nhựa này sẽ đông đặc lại, nhờ đó tử thi mới giữ được vẻ tự nhiên như khi c̣n sống. Đợi khi chất nhựa đă trở nên khô và cứng lại, người ta mới nhồi phía trong với đồ tơ lụa, và luôn lưu ư giữ cho không mất đi dáng vẻ tự nhiên. Sau khi dùng tơ lụa nhồi vào thật cứng, người ta lại đổ thêm chất nh a một lần nữa.

Kế đó, mặt ngoài xác chết được phết một lớp nhựa cùng loại và để cho thật khô. Rồi trước khi dán lên tử thi những băng lụa rất nhuyễn, người ta phết lên mặt ngoài đă cứng một lớp nước thuốc đặc biệt để sau này có thể gỡ các băng lụa ra một cách dễ dàng.

Khi tử thi đă nhồi đủ cứng, người ta đổ thêm chất nhựa, nhưng lần này là một loại khác, và tử thi đă sẵn sàng bước qua giai đoạn thứ hai của công việc ướp xác.

Trong một ngày và một đêm, tử thi được để yên tại chổ để cho hoàn toàn khô ráo. Khi người ta trở lại gian pḥng th́ nó đă cứng lại. Khi đó, tử thi mới được chở đi một cách trịnh trọng xuống pḥng ướp xác.

Pḥng ướp xác này rất nhỏ , nằm phía dưới pḥng thứ nhất. Thật ra th́ đây là một cái hỏa ḷ được xây cất theo một cách riêng để cho những ngọn lửa và nhiệt độ có thể luân chuyển chung quanh các vách tường, nhờ đó luôn giữ cho gian pḥng ở dưới một nhiệt độ cao và đều khắp.

Mặt nền của pḥng ướp xác được đắp lên một thứ bột đặc biệt, làm thành một lớp rất dày. Tử thi được đặt ngồi ở giữa. Phía dưới, các nhà sư chuẩn bị việc đốt lửa. Người ta nhồi vào ḷ một tạp chất gồm có muối (một thứ muối đặc biệt chế tạo tại một tỉnh ở Tây Tạng), các loại dược thảo và khoáng chất. Khi gian pḥng đă được nhồi đầy thứ tạp chất nói trên từ mặt đất lên đến trần, chúng tôi bước ra ngoài hành lang, cữa được đóng chặt lại và niêm phong bằng con dấu triện của tu viện.

Các nhà sư được lệnh đốt lửa. Trong giây lát, người ta nghe tiếng củi lửa cháy tí tách và khi ngọn lửa đă lên cao, có tiếng bơ sôi sục. Quả thật, các nồi hơi lớn được đun bằng phân ḅ yak và bơ phế thải. Suốt một tuần lễ, lửa cháy dữ dội trong ḷ và những luồng hơi nóng tràn vào trong những khe vách tường rỗng ruột của pḥng ướp xác.

Cuối ngày thứ bảy, người ta ngưng đốt thêm lửa và ngọn lửa tàn lụi dần dần. Nhiệt độ xuống thấp làm cho các vách tường đá phát ra tiếng kêu như rên rỉ. Khi hành lang đă nguội lại để có thể đi qua, người ta c̣n phải đợi thêm ba ngày nữa trước khi nhiệt độ trong pḥng trở lại b́nh thường.

Mười một ngày sau khi niêm phong, gian pḥng lại được mở khóa và cữa pḥng lại mở. Các nhà sư thay phiên nhau cạo sạch chất bột đă khô cứng. Họ cạo bằng tay chứ không dùng khí cụ để khỏi làm trầy xước xác ướp.

Sau hai ngày liên tục làm việc, họ đă gỡ xong những tảng muối và tạp chất khô gịn. Sau cùng, gian pḥng đă trống trơn, chỉ c̣n lại cái tử thi ngồi ở chính giữa theo tư thế hoa sen.
Người ta cẩn thận nâng cái xác và đưa trở lên gian pḥng thứ nhất. Tại đây nó được quan sát dễ dàng hơn dưới ánh sáng các ngọn đèn bơ. Những băng lụa được gỡ ra từng băng một, cho đến khi cái xác hoàn toàn trơ trọi. Việc ướp xác đă thành công hoàn toàn. Tử thi vẫn giữ nguyên vẹn h́nh dáng như trước, chỉ có màu sắc là trở nên sậm hơn nhiều. H́nh dáng tử thi hoàn toàn tự nhiên như người sống, dường như có thể tỉnh dậy bất cứ lúc nào.

Lại một lần nữa, tử thi được phết thêm một lớp nhựa, và các nhà sư chuyên nghề kim hoàn mới bắt đầu làm việc.

Thật là một kỹ thuật tinh xảo vô cùng! Tôi chưa từng thấy ai khéo léo như những nhà sư chuyên nghề kim hoàn này. Họ có thể đắp một lớp vàng lên một cái xác chết! Họ làm việc thận trọng và chậm răi, phết lên tử thi từng lớp vàng tinh lọc nhất và mịn màng tế nhuyễn nhất. Cho dù là ở đâu, số vàng này cũng đáng giá cả một gia tài! Nhưng đối với người Tây Tạng chúng tôi, nó chỉ có tầm mức quan trọng của một loại kim khí linh thiêng, một thứ kim khí mà tính chất bất hư hoại tượng trưng cho phần tâm linh của con người.

Những nhà sư chuyên nghề kim hoàn làm việc với một nghệ thuật rất tinh vi, và lưu ư kỹ từng chi tiết nhỏ nhặt. Khi hoàn thành công việc, họ tạo thành một pho tượng mạ vàng với dáng vẻ tự nhiên như người sống, không thiếu sót dù chỉ là một nếp nhăn. Điều này lại càng cho thấy rơ tài nghệ tinh xảo của họ .

Thân h́nh nặng trĩu bởi số vàng đắp lên đó được chở đến pḥng các đấng hóa thân và đặt ngồi trên một chiếc ngai bằng vàng, giống như những xác ướp đă được đặt tại đây từ trước. Trong số đó, có vài xác ướp đă có từ lúc bắt đầu lịch sử thần thoại.

Những xác ướp này ngồi sắp hàng ví như những vị thẩm phán nghiêm minh, quan sát xuyên qua những mí mắt hé mở những tội lỗi sa đọa của thời đại hiện nay.
Chúng tôi chỉ nói chuyện th́ thầm và đi nhón gót chân một cách rón rén, không dám quấy rầy những người chết đang ngồi đó. Tôi cảm thấy sức hấp dẫn mănh liệt của một trong các pho tượng vàng. Nó gây cho tôi một sự ám ảnh lạ lùng. Tôi có cảm giác pho tượng ấy vừa nh́n tôi vừa mỉm cười, dường như nó biết rơ tất cả.

Bỗng nhiên có người sờ nhẹ vào tay tôi làm tôi giật ḿnh gần muốn té xỉu v́ sợ hăi. Tôi quay đầu nh́n lại, th́ ra đó là… sư phụ tôi. Người nói: ‘Đây là cái xác ướp của con hồi kiếp trước. Chúng ta vẫn biết rằng con sẽ tự nh́n ra cái xác của ḿnh!’ Sư phụ dắt tôi đến trước một vị hóa thân ngồi bên cạnh cái xác ướp của tôi và nói: ‘C̣n đây, chính là… ta.’

Chúng tôi đều xúc động như nhau, và từ từ nhẹ bước lui ra khỏi pḥng. Cánh cữa lại được khóa chặt và niêm phong cẩn thận.

Sau đó, tôi thường có dịp trở lại pḥng các vị hóa thân để nghiên cứu những xác ướp mạ vàng. Đôi khi tôi đến ngồi thiền định suy tư một ḿnh bên cạnh các vị hóa thân. Mỗi vị đều có một tiểu sử được ghi chép cẩn thận, và tôi cũng đă xem qua các tiểu sử một cách vô cùng thích thú. Chính tại gian pḥng này mà tôi được xem tiểu sử tiền kiếp của sư phụ tôi, Lạt-ma Đại đức Mingyar, do đó tôi được biết những công tŕnh, những đức hạnh và tài năng của người trong kiếp trước, những danh vọng và chức vị mà người đă có, và người đă qua đời trong trường hợp nào. Cũng tại đây, tôi đă đọc được tiểu sử tiền kiếp của tôi. Tôi đă nghiên cứu một cách vô cùng say mê thích thú.

Có tất cả 98 xác ướp mạ vàng ngồi trong gian pḥng này, một gian pḥng bí mật đào trong núi đá sâu tận dưới ḷng đất, và cánh cữa vào cũng được ẩn giấu rất kỹ và rất bí mật. Tôi đang đứng trước cả một pho lịch sử của xứ Tây Tạng. Ít nhất tôi tin như vậy, v́ hồi đó tôi chưa biết rằng những thời kỳ sơ khai nhất của lịch sử Tây Tạng về sau này mới được tiết lộ cho tôi biết.

Like Like x 1 View List

Offline Huệ Từ

  • Jr. Member
  • **
  • Posts: 53
CHƯƠNG XVII: MỘT CUỘC ĐIỂM ĐẠO


Sau khi tôi đă chứng kiến độ nữa chục cuộc ướp xác trong một số tu viện khác nhau, ngày nọ vị Sư trưởng tu viện Chakpori cho mời tôi đến và nói: ‘Này đạo hữu Lobsang, theo lệnh dạy của đức Đạt-lai Lạt-ma, đạo hữu sẽ được điểm đạo vào hàng Sư trưởng. Nhưng thể theo ư muốn của đạo hữu, đạo hữu sẽ có thể tiếp tục mang danh hiệu Lạt-ma thôi, như Đại đức Mingyar vậy. Tôi chỉ chuyển đạt cho đạo hữu thông điệp của đức Đạt-lai Lạt-ma thôi.’

Như vậy, với tư cách một vị hóa thân được mọi người nh́n nhận, tôi đă đảm nhiệm trở lại cái danh vị cũ của tôi hồi tiền kiếp, cách đây độ chừng sáu thế kỷ . Bánh xe luân hồi đă xoay ṿng trở lại.

Ít lâu sau đó, một vị Lạt-ma cao niên đến thăm tôi tại pḥng riêng và cho tôi biết rằng tôi phải trải qua một cuộc lễ “chết giả”. Vị Lạt-ma ấy nói: ‘Này con, khi con chưa bước qua bên kia cửa tử và trở về dương thế th́ con sẽ không bao giờ biết rằng vốn không có sự chết. Sự học về các cảnh giới vô h́nh đă đưa con đi khá xa. Cuộc lễ này sẽ c̣n đưa con đi xa hơn nữa. Con sẽ vượt qua cơi sống và cơi chết, và con sẽ đi ngược gịng thời gian để truy nguyên đến tận cái dĩ văng vô cùng mầu nhiệm của xứ sở chúng ta.’

Sự chuẩn bị cho cuộc lễ này thật lâu dài và khó nhọc. Trong ba tháng trường, tôi phải tuân theo một phép ăn uống rất khắc khổ . Bất hạnh thay, tôi lại c̣n phải dùng thêm những món cỏ thuốc có mùi rất nồng nặc kèm theo những bữa ăn thường ngày. Người ta khuyên tôi chỉ nên nghĩ đến những ǵ “trong sạch và thánh thiện” mà thôi. (Như thể là người ta có thể nghĩ ǵ đó khác hơn trong một tu viện!) Thậm chí các món tsampa và trà cũng bị hạn chế. Nói tóm lại, tôi phải trải qua một nếp sống khắc khổ tối đa, chịu một kỷ luật nghiêm khắc và trải qua những giờ công phu thiền định lâu dài.

Sau cùng, ba tháng đă trôi qua, các nhà chiêm tinh tuyên bố rằng thời giờ đă điểm, và những ảnh hưởng tinh tú đều thuận lợi. Trong hai mươi bốn giờ đồng hồ, tôi nhịn đói cho đến khi tôi cảm thấy bụng tôi rỗng như cái trống chầu trong đền. Sau đó, người ta đưa tôi đi xuống những nấc thang bí mật ở dưới hầm điện Potala. Chúng tôi đi xuống rất lâu; những người đồng hành với tôi đều cầm đuốc soi đường, c̣n tôi th́ không.

Chúng tôi đi qua những dăy hành lang mà tôi đă biết trong cuộc thám hiểm trước đây. Sau cùng, chúng tôi đến chỗ cuối một đường hầm có một tảng đá khép chặt. Một cánh cữa bí mật bằng đá lớn xoay ṿng trước mặt chúng tôi và đưa chúng tôi vào một đường hầm khác rất hẹp và tối tăm, nơi đó xông lên một mùi mốc meo lẫn lộn với mùi gia vị và mùi hương trầm.

Đi xa hơn độ vài thước, chúng tôi bị ngăn lại bởi một cánh cữa thếp vàng rất dày và chắc; cánh cữa này mở ra từ từ với những tiếng khua rít vang dội. Những ngọn đuốc được dập tắt và thay thế bằng những ngọn đèn bơ. Chúng tôi bước vào một ngôi đền ở dưới hầm, được khoét sâu trong núi đá từ nhiều thế kỷ về trước bởi những cuộc địa chấn do núi lửa gây ra.

Ngày xưa, những gịng nham thạch từ trong ḷng đất đă chảy qua những dăy hành lang này trước khi đến miệng núi lửa. Tôi thầm nghĩ: ‘Bây giờ th́ là những con người yếu hèn tội lổi đi ngang qua những con đường này, và họ tự nghĩ rằng ḿnh là thần thánh.’

Nhưng trong giờ phút này, tôi cần phải tập trung tư tưởng đến cuộc lễ, v́ chúng tôi đă đến ngôi đền Minh Triết Huyền Bí.

Ngoài ba vị Sư trưởng dẫn đường cho tôi, c̣n lại những người đi theo hộ tống đă biến mất dạng trong bóng tối, như những ảo ảnh của một giấc mơ. Chỉ c̣n tôi ở lại với ba vị hiền giả lăo thành, thân h́nh già nua với năm tàn tháng lụn và b́nh tĩnh đợi chờ ngày khuất núi.

Ba ông lăo này có lẽ là ba vị đạo sư cao cả nhất, sẽ đặt tôi dưới một thử thách cuối cùng trong cuộc lễ điểm đạo. Mỗi vị đều cầm nơi tay mặt một ngọn đèn bơ, và tay trái cầm một cây nhang to lớn cháy nghi ngút. Tiết trời rất lạnh lẽo, một cơn lạnh rất lạ lùng, không hề có trên mặt đất. Cơn im lặng rất thâm trầm, và những tiếng động rất hiếm đến từ bên ngoài càng làm cho sự im lặng ấy trở nên lạ lùng hơn nữa. Những đôi giày ủng lót bằng nỉ của chúng tôi không gây một tiếng động nào. Chúng tôi lướt đi như những cái bóng. Tôi nghe tiếng suỵt soạt êm dịu từ những vạt áo tràng bằng nhung màu vàng nghệ của các Sư trưởng.

Tôi vô cùng kinh ngạc mà cảm thấy trên da thịt một luồng điện chạy lăn tăn như kiến ḅ, và có hiện tượng phóng điện toát ra từ thân ḿnh tôi. Hai bàn tay tôi chiếu sáng dường như phóng hào quang. Tôi nhận thấy các vị Sư trưởng cũng có hai bàn tay chiếu sáng ngời giống y như tôi. Khí trời khô ráo và sự cọ xát bởi những áo tràng của chúng tôi đă gây nên một sự tích tụ của tĩnh điện. Một trong các vị Sư trưởng bèn đưa cho tôi một chiếc đũa vàng và th́ thầm: ‘Con hăy cầm chiếc đũa vàng này nơi bàn tay trái và vừa chống lên vách tường vừa đi. Như vậy, những cảm giác khó chịu sẽ biến mất.’

Tôi làm y theo lời. Sau một phát phóng điện mănh liệt nó làm cho tôi giật nảy ḿnh, mọi việc đều êm đẹp. Những ngọn đèn bơ đă lần lượt được thắp sáng bởi những bàn tay vô h́nh. Khi tôi nh́n rơ hơn dưới ngọn đèn bơ leo lét, tôi thấy những pho tượng khổng lồ mạ vàng, trong đó có vài pho tượng chôn ngập đến nữa thân ḿnh dưới một đống ngọc quư và châu báu.

Một bức tượng Phật xuất hiện từ trong bóng tối. Bức tượng ấy to lớn đến nỗi ánh sáng không vượt lên khỏi phần thắt lưng. Những h́nh tượng khác cũng ẩn hiện chập chờn trong bóng tối. Đó là các vị thần, tượng trưng cho những dục vọng và thử thách mà con người phải vưọt qua trước khi hiển lộ được chân ngă.

Chúng tôi đến gần một vách tường, trên đó có vẽ h́nh một bánh xe luân hồi đường kính khoảng năm thước. Dưới ánh sáng lập ḷe, nó dường như xoay tít đến nỗi làm chúng tôi chóng mặt.

Chúng tôi vẫn tiến bước; tôi có cảm giác là sắp bị ngăn chặn bởi một vách đá. Nhưng vị Sư trưởng đi trước tôi đă biến mất dạng sau khi đi lọt qua một cánh cữa bí mật, ẩn giấu rất khéo léo không ai có thể biết được. Cánh cữa này đưa vào một đường hầm đi xuống dốc, đường rất hẹp và quanh co. Tại đây, ánh sáng mập mờ của các ngọn đèn bơ làm cho bóng tối càng thêm âm u huyền bí.

Chúng tôi đi với những bước ngập ngừng do dự , thỉnh thoảng lại sẩy chân, và trượt ngă. Bầu không khí thật nặng nề khó thở dường như toàn khối địa cầu đang đè nặng lên vai chúng tôi. Tôi có cảm giác như đi lọt vào tận trong ruột của trái đất.

Sau cùng, qua một khúc quanh, một động đá mở rộng trước mắt chúng tôi, chiếu sáng ngời những ánh vàng. Những mạch vàng xen kẽ với những lớp đá tảng trên vách. Trên ṿm đá cao vút trên đỉnh đầu chúng tôi, những mạch vàng này phản chiếu ánh sáng lập ḷe của những ngọn đèn bơ, chiếu lấp lánh như ánh sao chớp trên nền trời trong một đêm không trăng.
Ở chính giữa động đá có một ngôi nhà màu đen và sáng ngời, dường như làm bằng gỗ mun. Trên tường có những h́nh biểu tượng và sơ đồ lạ lùng giống như những h́nh vẽ mà tôi đă nh́n thấy trên vách đá dưới hầm khi tôi thám hiểm cái hồ nước dưới ḷng đất trước đây.

Chúng tôi bước vào nhà qua một cữa lớn và cao. Bên trong, tôi nh́n thấy ba cổ quan tài rất lớn bằng đá đen có chạm h́nh và khắc những gịng chữ lạ kỳ. Ba cổ quan tài đều không đậy nắp. Nh́n vào bên trong tôi bèn muốn đứt hơi thở và th́nh ĺnh tôi cảm thấy rất yếu. Vị tiên chỉ cao niên nhất trong ba vị Sư trưởng liền nói với tôi: ‘Này con, con hăy nh́n xem. Các vị này đă từng sống như những đấng thần minh ở xứ ta vào một thời kỳ mà xứ này c̣n là đồng bằng, chưa có núi non ǵ cả. Các vị ấy đă từng rong ruổi trên đất liền trong khi những vùng biển cả c̣n đập sóng ở ngoài khơi của xứ Tây Tạng, và khi những bầu tinh tú khác c̣n chiếu sáng trên nền trời của chúng ta. Con hăy nh́n xem cho kỷ , v́ chỉ có những bậc đạo đồ mới thấy được mà thôi.’

Tôi làm y theo lời, và tôi liền thấy vừa thích thú vừa kinh ngạc. Ba thể xác to lớn, toàn thân đều mạ vàng, đang nằm trong ba cổ quan tài trước mắt tôi. Hai người nam và một người nữ . Mỗi nét trên thân h́nh của họ đều được giữ ǵn nguyên vẹn dưới lớp vàng phủ bên ngoài. Nhưng họ là những người khổng lồ! Người nữ hẳn phải cao hơn ba thước tây, và người lớn nhất trong hai người nam chắc chắn cũng không dưới năm thước! Đầu của họ rất lớn, hơi nhọn trên đỉnh đầu, quai hàm hẹp, miệng hơi nhỏ và cặp môi mỏng. Sống mũi dài và thanh, đôi mắt ngay thẳng và thụt vào sâu. Gương mặt họ vẫn tươi như người sống. Họ có vẻ như những người đang nằm ngủ.

Chúng tôi nhón gót đi rón rén như sợ rằng sẽ làm cho họ thức giấc. Tôi nh́n xem cái nắp của một cổ quan tài; trên đó có khắc một bản đồ thiên tượng với những tinh tú rất lạ lùng. Nhờ có học về khoa chiêm tinh, tôi đă từng quen thuộc với vị trí các bầu tinh tú. Nhưng bản đồ thiên tượng này hoàn toàn khác hẳn. Vị tiên chỉ quay lại phía tôi và nói: ‘Con sẽ trở nên một bậc đạo đồ. Con sẽ nh́n thấy quá khứ và con cũng sẽ biết cả tương lai. Nhưng cuộc thử thách bây giờ sẽ rất cam go, gian khổ . Nhiều người không sống được sau cơn thử thách này và nhiều người khác đă thất bại, không ai có thể rời khỏi chốn này một cách an toàn, trừ phi đă vượt qua được sự thử thách. Con đă chuẩn bị sẵn sàng chưa, và con có bằng ḷng tham dự cuộc thử thách này chăng?’

Tôi đáp rằng tôi đă sẵn sàng và ba vị Sư trưởng liền đưa tôi đến một phiến đá đặt giữa hai cổ quan tài. Theo chỉ dẫn của các vị Sư trưởng, tôi ngồi lên phiến đá trong tư thế hoa sen, hai chân xếp bằng, lưng thẳng, và ḷng bàn tay lật ngữa.

Những cây nhang to lớn cháy nghi ngút được cắm lên mỗi chiếc quan tài ở hai bên và trên phiến đá chỗ tôi ngồi. Các vị Sư trưởng lần lượt rút lui và biến mất dạng, mỗi vị cầm một ngọn đèn bơ soi đường. Họ đóng cánh cữa lớn, chỉ c̣n lại một ḿnh tôi với những xác ướp các vị tiền bối của một thế hệ đă qua.

Thời gian trôi qua. Tôi định tâm ngồi thiền. Ngọn đèn của tôi đem theo đă cạn bơ và vụt tắt. Trong một lúc, tôi nh́n thấy cái bấc đèn c̣n ngún đốm lửa tàn, và ngửi thấy một mùi bấc cháy, rồi kế đó mọi sự đều biến mất, và không c̣n ǵ nữa.

Tôi nằm dài trên phiến đá và bắt đầu hô hấp theo một phép khí công đặc biệt mà tôi đă thụ huấn trong nhiều năm. Bầu không khí im lặng, bóng tối dày đặc chung quanh đè nặng lên tôi. Quả thật đó là cái im lặng của nhà mồ.

Th́nh ĺnh, thân ḿnh tôi cứng đơ và trở nên bất động như một cái xác chết. Tay chân tôi tê liệt và lạnh dần. Tôi có cảm giác như đang bước vào cơi chết, chết trong ngôi mộ cổ này, ở một bề sâu trên một trăm thước dưới ḷng đất và không có ánh sáng mặt trời.

Một cơn rung chuyển mạnh diễn ra bên trong thân thể tôi và làm cho toàn thân tôi rũ liệt. Một ánh sáng màu xanh lợt từ từ xuất hiện trong ngôi mộ như một ánh trăng mới mọc trên một truông núi. Tôi cảm thấy tôi hơi cử động, thân tôi nhẹ bổng bay lên rồi rơi xuống. Trong một lúc, tôi tưởng rằng tôi đang ngồi trên một con diều gỗ lượn trên không gian.

Sự thật hiện ra trong trí tôi, tôi đang bay phất phơ phía trên cái thể xác bằng xương thịt của tôi. Tuy không có gió, nhưng tôi bị lôi cuốn đi như một đám khói. Ở phía trên đầu, tôi thấy một vầng ánh sáng giống như một cái hoa màu vàng. Từ chính giữa thân ḿnh tôi, tỏa ra một sợi dây màu xanh bạc, chiếu lóng lánh và tràn đầy nhựa sống. Tôi nh́n xem cái thể xác vô tri bất động của tôi, nó chỉ là một cái xác chết như mọi xác chết khác.

Dần dần, tôi phân biệt được những điểm khác biệt nhỏ giữa cái xác của tôi với xác ướp của những người khổng lồ nằm gần bên. Đó là một điều rất lư thú. Tôi nghĩ đến những sự tự hào lố bịch của nhân loại đương thời, v́ làm sao người ta có thể dùng khoa học vật lư để giải thích sự hiện diện của những xác ướp khổng lồ này?

Tôi c̣n đang suy nghĩ… th́ th́nh ĺnh tôi trở nên ư thức được một cái ǵ nó làm đảo lộn ḍng tư tưởng của tôi. Dường như lúc ấy tôi không c̣n cô độc một ḿnh. Những mẩu chuyện vụn vặt vọng đến tai tôi, những tư tưởng đứt đoạn không thốt ra lời. Những h́nh ảnh tán loạn ẩn hiện chập chờn xuyên qua tầm nhăn quang siêu linh của tôi.

Tôi có cảm giác nghe thấy từ xa xa ngân lên một tiếng chuông lớn với một giọng trầm. Tiếng chuông ấy đến gần rất mau cho đến khi nó dường như nổ ra trong đầu tôi. Đó là những giọt ánh sáng muôn màu nhỏ li ti và những tia chớp với những màu sắc lạ lùng chưa từng thấy, hiện ra trước mắt tôi. Thần thức của tôi phất phơ và đưa đẩy như một chiếc lá rụng bị cuốn đi trong cơn giông băo. Tâm thức tôi bị giày ṿ, cấu xé một cách đau đớn phũ phàng bởi một con trốt xoay tít với muôn ngh́n đốm lửa.

Tôi cảm thấy bị bỏ rơi, hoàn toàn cô độc, như một mảnh bèo nhỏ nhoi trôi dạt giữa một vũ trụ mênh mông bấp bênh vô định. Một đám sương mù đen kịt bao phủ lấy tôi và đem đến cho tôi một niềm yên tĩnh lạ lùng, không thuộc về những cảm giác của trần gian.

Những bóng tối dày đặc bao phủ tôi dần dần tiêu tan. Tôi nghe tiếng gầm thét của biển cả và tiếng rít lên của những viên đá sạn bị sóng nhồi trên băi cát. Tôi thở một bầu không khí đầy hơi muối và tôi ngửi thấy mùi rong biển. Cảnh vật rất quen thuộc đối với tôi. Tôi nằm dài một cách uể oải trên băi cát được sưởi ấm bởi ánh mặt trời, và ngắm nh́n những tàn cây thốt nốt.

Nhưng có một phần trong tôi lên tiếng phản đối: Tôi chưa hề nh́n thấy biển cả bao giờ, và thậm chí không hề biết có loại cây thốt nốt! Rồi một tràng dài những giọng nói và tiếng cười vọng ra từ một lùm cây. Những giọng nói càng đến gần, và xuất hiện một nhóm người da sậm như đồng đỏ đang nô đùa vui vẻ. Những người khổng lồ! Tất cả đều cùng vóc dáng như nhau! Tôi nh́n lại thân ḿnh, và thấy tôi cũng vậy, tôi cũng là một người khổng lồ.

Những ấn tượng tiếp diễn theo nhau trong trí tôi, đó là ngày xưa, hàng bao nhiêu ngh́n muôn năm trước, khi quả địa cầu ở gần mặt trời hơn bây giờ, nhưng sự luân chuyển của nó lại đi theo một hướng ngược chiều. Ngày ngắn hơn và nóng hơn bây giờ. Những nền văn minh vĩ đại đă được xây dựng và nhân loại thời ấy thông thái hơn người đời nay.

Khi ấy, từ ngoài không gian bổng nhiên có một hành tinh chuyển động bất thường và chạm vào trái đất, làm cho trái đất bị dội ngược, bật ra khỏi quĩ đạo của nó, và xoay ngược chiều lại. Những cơn giông băo làm chấn động biển cả, và nước biển trào lên các lục địa. Nước biển tràn ngập khắp nơi, quả địa cầu lại bị rung chuyển bởi những cơn động đất dữ dội. Nhiều vùng lục địa bị sụp lở và ch́m xuống nước, những vùng khác lại trồi lên trên mặt biển.

Xứ Tây Tạng, được đội lên đến bốn ngàn thước cao hơn mặt biển, không c̣n là một xứ nhiệt đới có bờ biển, một nơi nghỉ mát có thời tiết ôn ḥa, dễ chịu nữa. Những dăy núi cao vút, những núi lửa phun trào và nham thạch bao vây chung quanh, kín đáo như tường thành. Trên miền thượng du, đất đai bị nứt nẻ ra thành những vực thẳm, tại đó loài cầm thú và thảo mộc của những thời đại đă qua vẫn tiếp tục sinh trưởng.

Nhưng có rất nhiều điều mà tôi không thể nói ra, và một phần cuộc lễ điểm đạo của tôi thật quá thiêng liêng và có tính cách riêng tư nên không thể công bố trong một quyển sách dành cho đại chúng.

Sau một thời gian, những linh ảnh mờ dần và biến mất. Dần dần tôi mất cả ư thức về cảnh giới siêu linh lẫn cả ư thức về cơi trần. Sau đó, tôi có một cảm giác khó chịu, lạnh lẽo kinh khủng v́ nằm dài đă quá lâu trên một phiến đá trong bầu không khí lạnh buốt của ngôi mộ cổ . Những tư tưởng lạ từ bên ngoài đến “thăm ḍ” khối óc của tôi như những ngón tay sờ mó. ‘À, anh ta đă trở lại với chúng ta. Chúng ta đă đến kịp giờ.’

Nhiều phút trôi qua. Một ánh sáng lu mờ từ từ tiến đến gần tôi. Những ngọn đèn bơ, và ba vị Sư trưởng. ‘Con ơi, con đă vượt qua được cuộc thử thách. Con đă nằm trên phiến đá này suốt ba ngày ba đêm. Bây giờ, con đă nh́n thấy. Con đă trải qua sự chết, và con đă sống lại.’

Khi tôi ngồi dậy, tay chân cứng đơ, tôi lảo đảo v́ yếu sức và v́ không cử động đă lâu. Khi tôi bước ra khỏi ngôi mộ cổ mà suốt đời tôi không bao giờ quên, tôi đă thở bầu không khí lạnh như băng trong các đường hầm bí mật. Cơn đói khát làm cho tôi muốn xỉu, và tôi c̣n bị hoang mang xúc động bởi tất cả những ǵ tôi đă nh́n thấy, bởi tất cả những ǵ mà kinh nghiệm vừa qua đă cho tôi biết.

Về đến đạo viện, tôi ăn uống đến thỏa ḷng. Đêm đó, khi tôi đi ngủ, tôi hiểu rằng những lời tiên tri sẽ được thực hiện và không bao lâu tôi sẽ rời khỏi xứ Tây Tạng để đi đến những xứ xa lạ.

Bây giờ, khi tôi đă biết những xứ ấy rồi, tôi có thể nói rằng đối với tôi th́ những xứ ấy có vẻ dị kỳ hơn cả sự tưởng tượng của tôi lúc đó!  


Like Like x 1 View List

Offline Huệ Từ

  • Jr. Member
  • **
  • Posts: 53


CHƯƠNG XVIII: TÂY TẠNG – CHÀO TẠM BIỆT!



Vài ngày sau, khi tôi cùng với sư phụ đang ngồi trên bờ sông Hạnh Phúc th́ có một người kỵ mă phi nước đại chạy ngang. Khi vừa nhận ra Đại đức Mingyar, anh ta liền dừng ngựa một cách đột ngột đến nỗi vó ngựa hất văng lên những đám mây bụi xoay tít như cơn gió lốc. Anh ta xuống ngựa và nói: ‘Tôi mang đến một thông điệp của đức Đạt-lai Lạt-ma, gửi cho vị Lạt-ma Lobsang.’

Rồi anh ta rút trong túi áo ra một bức thư bọc trong một khăn quàng theo lễ nghi truyền thống, và sau khi chuyển giao bức thư cho tôi với ba lần vái chào, anh ta bèn rút lui, nhảy lên lưng ngựa và phóng đi ngay.

Lúc ấy tôi không c̣n e dè sợ sệt ǵ nữa; kinh nghiệm vừa qua của tôi ở dưới hầm điện Potala đă mang đến cho tôi sự tự tin. Tôi bèn mở phong b́ và đọc bức thông điệp trước khi chuyển giao cho sư phụ và cũng là người bạn của tôi - Đại đức Mingyar. Tôi nói: ‘Sáng mai, con phải đến vườn Ngọc Uyển để bái kiến đức Đạt-lai Lạt-ma. Ngài cũng có mời sư phụ cùng đến.’

Sư phụ đáp: ‘Lobsang, tuy thầy không có thói quen thăm ḍ những ư định kín đáo của đức Đạt-lai Lạt-ma, nhưng thầy cảm thấy rằng không bao lâu con sẽ lên đường sang Trung Hoa. C̣n thầy, th́ không bao lâu nữa sẽ từ giă cơi trần. Chúng ta hăy vui với nhau ngày hôm nay, tận dụng chút thời gian ít ỏi c̣n lại.’

Qua ngày hôm sau, một lần nữa, tôi theo con đường quen thuộc đưa đến vườn Ngọc Uyển. Sau khi xuống chân đồi, tôi đi trên đường Ling-khor và đến trước cổng vườn. Đại đức Mingyar cùng đi với tôi. Hai thầy tṛ chúng tôi cùng có một tư tưởng giống nhau, có lẽ chúng tôi đang đi chung một lần cuối cùng để viếng thăm đức Đạt lai Lạt-ma. Những cảm nghĩ đó chắc hẳn đă hiện rơ trên nét mặt của tôi, v́ khi tôi ngồi một ḿnh với đức Đạt-Lai Lạt-ma, ngài nói: ‘Giờ phút chia ly, để mọi người đi một đường, bao giờ cũng đầy sự sầu thảm, bi ai. Ở đây, trong ngôi nhà mát này, ta đă suy ngẫm trong nhiều giờ về vấn đề tối quan trọng là nên ở lại hay ra đi khi xứ sở ta xảy ra loạn lạc? Dầu cho ta quyết định như thế nào, cũng đều có người phải chịu khổ sở. Lobsang con ơi, con đường của con đă được vạch sẵn, và tất cả mọi con đường đều khó nhọc, gian lao. Gia đ́nh, tổ quốc, bạn bè… con phải bỏ lại phía sau. Con sẽ gặp trên bước đường đời của con, như con đă biết trước, sự hiểu lầm, sự nghi nan, đố kỵ , cùng sự ngược đăi, tra tấn, và tất cả những ǵ là đau khổ , đắng cay. Cách xử thế của người ngoại quốc rất dị kỳ và không thể giải thích. Như ta đă nói với con, họ chỉ tin nơi những ǵ họ có thể làm, những ǵ họ có thể phân chất trong các pḥng thí nghiệm khoa học. C̣n cái khoa học quan trọng nhất là khoa học về chân ngă, th́ họ không quan tâm đến. Đó là con đường của con, con đường mà con đă chọn trước khi sinh ra ở kiếp này. Ta đă quyết định biệt phái con sang Trung Hoa trong năm ngày nữa.’

Năm ngày! Chỉ có năm ngày thôi, trong khi tôi hy vọng có thể sử dụng năm tuần lễ. Trên đường về tu viện Chakpori, sư phụ và tôi không trao đổi với nhau một lời nào. Khi về đến tu viện, người mới nói: ‘Lobsang, con phải về thăm cha mẹ con. Thầy sẽ cho người báo tin trước.’

Cha mẹ tôi ư? Thầy tôi đă đối xử với tôi c̣n hơn cả cha mẹ. Và không bao lâu, người sẽ từ giă cuộc đời. Người sẽ từ trần trước khi tôi trở về Tây Tạng trong vài năm sau. Di tích của người để lại cho tôi sẽ là cái xác ướp mạ vàng đặt tại pḥng các vị hóa thân, cái thể xác vô tri mà người sẽ vất bỏ như một cái áo cũ đă trở nên vô dụng.

Năm ngày! Những ngày bận rộn. Từ Bảo tàng cung điện Potala một bộ quần áo kiểu phương Tây đă được mang tới cho tôi thử . Không phải tôi sẽ mặc bộ này tới Trung Quốc, áo choàng Lạt ma của tôi có thể sẽ phù hợp hơn ở đó, mà là để những người khác có thể xem tôi trông như thế nào trong bộ quần áo đó. Ôi, quần áo! Những cái ống quần áo chặt thít lấy chân tôi, chặt đến nỗi tôi sợ không dám cúi người xuống. Bây giờ tôi đă biết tại sao người phương Tây không thể ngồi trong tư thế hoa sen: quần áo của họ quá chật. Tôi nghĩ một cách chắc chắn là tôi sẽ “bị hủy hoại cuộc sống” v́ những cái ống bó chặt này. Họ đặt một cái dây chằng mầu trắng lên tôi, và họ buộc ṿng quanh cổ tôi một dải ruy-băng dầy và kéo thít nó lại như thể họ đang chuẩn bị xiết cổ tôi. Trên đó họ đặt những miếng vải ngắn có miếng đáp và lổ ở phía sau, mà trong đó, họ nói rằng người phương Tây để các đồ vật – thay v́ trong áo choảng như chúng tôi vẫn sử dụng.

Nhưng đó chưa phải là điều tồi tệ nhất. Họ đặt những chiếc “găng” nặng và dầy vào chân tôi và kéo chúng thật chặt với những sợi dây màu đen với hai đầu bằng kim loại. Những người ăn xin đi bằng bàn tay và đầu gối xung quanh đường Lingkhor đôi khi cũng sử dụng những chiếc găng tay tương tự như vậy cho đôi tay của họ , nhưng họ đủ khôn để sử dụng những đôi giầy da Tây Tạng rất tốt cho đôi chân của họ . Tôi cảm thấy như sắp bị què, và v́ thế không thể đi đến Trung Quốc được. Một cái bát lộn ngược màu đen với đường viền xung quanh được đặt lên trên đầu tôi, và người ta nói với tôi rằng tôi ăn mặc như một “quư ông phương Tây nhàn nhă”. Dường như đối với tôi họ phải nhàn nhă, v́ chắc chắn là không thể kỳ vọng họ có thể làm bất cứ việc ǵ khi ăn mặc như thế này!

Qua ngày thứ ba, tôi trở về nhà. Tôi đi bộ một ḿnh như ngày tôi rời nhà để vào tu viện. Nhưng, trong thời gian qua, tôi đă trở nên một vị Lạt-ma và một vị Sư trưởng. Cha mẹ đợi tôi ở nhà và tiếp đón tôi như một vị thượng khách. Tối hôm ấy, tôi lại đến văn pḥng của cha tôi để kư tên vào quyển gia phả và ghi vào đó những tước vị của ḿnh. Sau đó, tôi lại đi bộ trở về tu viện, nơi đă trở thành nhà của tôi từ bấy lâu nay.

Hai ngày cuối cùng trôi qua rất mau. trước ngày lên đường, tôi đến bái yết đức Đạt-lai Lạt-ma một lần cuối cùng. Tôi nói vài lời từ giă, và Ngài ban ân huệ cho tôi. Ḷng tôi se thắt khi tôi từ biệt ngài. Cả Ngài và tôi đều biết rằng tôi chỉ gặp Ngài trở lại sau khi Ngài từ trần, sang cảnh giới bên kia.

Qua hôm sau, tôi lên đường vào lúc b́nh minh, bước đi chậm chạp, và ḷng không hứng khởi. Lại một lần nữa, tôi bước chân trên con đường thiên lư, không một mái nhà riêng, hướng về nhữNg chân trời xa lạ. Tôi phải bắt đầu lại tất cả!

Đi đến đỉnh cao tột của truông núi, tôi quay đầu nh́n lại rất lâu, và đó cũng là cái nh́n cuối cùng của tôi xuống thành phố thánh địa Lhasa.
Một con diều đơn chiếc đang bay lượn trên nóc điện Potala.

Like Like x 1 View List